Sức mạnh tổng lực làm nên kết quả bền vững

Hơn bao giờ hết, ở thời điểm tăng tốc để đạt mục tiêu đến 2015 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII như hiện nay, cấp uỷ, chính quyền các cấp càng quán triệt, sâu sát hơn về nhiệm vụ quản lý, bảo vệ tài nguyên than.

Theo đó, việc duy trì trật tự hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển và kinh doanh than luôn được cấp uỷ, chính quyền từ tỉnh tới cơ sở xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành. Và kết quả đầu tiên đáng ghi nhận đó là dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với quyết tâm duy trì bền vững trật tự trong lĩnh vực này.

Sức mạnh tổng lực làm nên kết quả bền vững ảnh 1
Lực lượng chức năng dùng thuốc nổ triệt phá lò than trái phép tại Đại Yên (TP Hạ Long).
                                                         Ảnh: Yên Ninh

Tính đến thời điểm này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 63 giấy phép khai thác than cho 20 đơn vị thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Theo đó, tổng trữ lượng địa chất của 20 đơn vị này được xác định là 973,8 triệu tấn; trữ lượng khai thác 709,1 triệu tấn; trữ lượng tổn thất 264,7 triệu tấn; công suất 57,6 triệu tấn/năm. Tổng diện tích khu vực khai thác 421.082km2. Thực hiện nội dung các giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp, các Công ty thuộc TKV đã tổ chức cắm, lập hồ sơ ranh giới khu vực khai thác theo giấy phép được cấp. Sở Tài nguyên - Môi trường đã phối hợp với các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã trên địa bàn kiểm tra, xác nhận mốc ranh giới các khu vực khai thác than tại thực địa với các đơn vị ngành Than và Tập đoàn TKV. Đáng chú ý, trách nhiệm bảo vệ tài nguyên than trong và ngoài ranh giới mỏ của các đơn vị ngành Than và chính quyền địa phương đã được làm rõ.

Hầu hết, các đơn vị ngành Than và chính quyền địa phương đã xây dựng, ký kết quy chế phối hợp trong quản lý, bảo vệ tài nguyên than trong và ngoài ranh giới mỏ; thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ tài nguyên than trong ranh giới mỏ được giao. Tuy nhiên, một số mỏ than với đặc điểm phân bố của vỉa, có vỉa than nằm xen lẫn trong các khu dân cư. Cụ thể, ở Công ty Than Mạo Khê vỉa than nằm ở các khu dân cư Vĩnh Lâm, Vĩnh Phú, Đoàn Kết… Công ty Than Hòn Gai, vỉa than nằm ở các phường Hà Khánh, Cao Xanh. Do đó, việc quản lý, ngăn chặn, xử lý khai thác than trái phép tại các khu vực này rất khó khăn, đòi hỏi các đơn vị ngành Than phải tăng cường quản lý hết sức chặt chẽ mới đảm bảo quản lý được tài nguyên.

Mặc dù có những khó khăn, phức tạp như đã nêu ở trên, song với cấp uỷ, chính quyền địa phương từ tỉnh tới cơ sở luôn xác định, quản lý khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh than là nhiệm vụ quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Vì vậy, tỉnh đã có rất nhiều giải pháp thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ riêng năm 2009, UBND tỉnh đã ban hành 13 văn bản chỉ đạo các ngành, các địa phương có sản xuất than tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm về khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn.

Cần khẳng định rằng, trong công tác này, tỉnh hết sức coi trọng, đề cao vai trò công tác phối hợp, đặc biệt là của nhân dân. Bất cứ một thông tin nào của dân phản ánh về tình trạng khai thác, tiêu thụ than trái phép đều được lãnh đạo tỉnh chỉ đạo kịp thời, cụ thể. Đơn cử như dịp đầu tháng 1-2009, tiếp nhận thông tin từ các cụ hưu trí ở Mạo Khê và Hà Lầm (TP Hạ Long) phản ánh có hiện tượng lợi dụng thu gom than trôi nổi để lấy cắp than của mỏ. Hiện tượng vận chuyển, kinh doanh than trái phép tái diễn trên một số địa bàn; việc quản lý ranh giới tài nguyên và các bãi thải nhà sàng của một số đơn vị thuộc TKV chưa chặt chẽ, gây mất trật tự an ninh, UBND tỉnh đã ban hành ngay văn bản (số 25/UBND-CN2) chỉ đạo. Theo đó, tỉnh giao Chủ tịch UBND 5 địa phương (Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Hoành Bồ, Đông Triều) trực tiếp chỉ đạo, ngăn chặn không để địa bàn xảy ra các hiện tượng nêu trên. Kiên quyết trong việc làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể.

Không chỉ đi vào tập trung xử lý vụ việc, mà công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên than trên địa bàn còn được tỉnh chỉ đạo một cách toàn diện theo hướng chấn chỉnh những kẽ hở, điểm yếu trong hoạt động này. Cụ thể như kiểm tra, xử lý các đơn vị chế biến kinh doanh than không đủ điều kiện (văn bản số 90/UBND-CN2); phòng ngừa sử dụng giấy tờ giả để khai thác, thu mua than (văn bản số 2026/UBND-CN2)…

Sức mạnh tổng lực làm nên kết quả bền vững ảnh 2
Đồng chí Đỗ Thông, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo TKV kiểm tra một điểm khai thác than trái phép ở Đông Triều.
                                          Ảnh: Lê Hải

Bên cạnh đó, tỉnh đã làm tốt vai trò của mình trong công tác phối hợp với Tập đoàn TKV. Cụ thể như, ngay sau cuộc họp với Tập đoàn (tháng 4-2009), UBND tỉnh đã ban hành văn bản (số 1345/UBND-CN2) chỉ đạo đối với các sở, ban, ngành chức năng và UBND 5 huyện, thị xã, thành phố. Văn bản này chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị như Tài nguyên - Môi trường, Công Thương, Hải quan, Biên phòng, Cảng vụ… Cùng với việc chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 11/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ than trên địa bàn, UBND tỉnh còn chỉ đạo tăng cường xử lý nghiêm nhất theo quy định các điểm khai thác than trái phép (văn bản số 3515/UBND-CN 2). Điều này càng khẳng định rõ, sự quyết tâm cao nhất của lãnh đạo tỉnh trong việc duy trì trật tự của hoạt động này trên địa bàn. Thậm chí, ngay cả khi trật tự kỷ cương trong khai thác, kinh doanh than đã lập lại. Tình hình khai thác, chế biến và kinh doanh than trái phép trên địa bàn cơ bản đã được kiểm soát nhưng tỉnh chưa bao giờ có tư tưởng “nghỉ tay”. Bởi, tất cả đều chung một nhận thức, nếu không được kiểm tra thường xuyên và xử lý kiên quyết, nguy cơ tái diễn hoạt động khai thác, chế biến và kinh doanh than trái phép có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, tại văn bản số 4172/UBND-CN2 sau khi khẳng định, dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành trung ương, tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn TKV đã triển khai thực hiện tốt kế hoạch phối hợp về sản xuất kinh doanh than và các giải pháp xử lý nạn khai thác, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo 5 địa phương cùng một số sở, ngành chức năng tăng cường công tác quản lý nhà nước trên địa bàn; thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh than…
Cùng với việc nắm bắt tình hình qua các nguồn thông tin, để sát sao trong công tác chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh thường xuyên thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đi thực địa tại các điểm “nóng” có nguy cơ khai thác than trái phép như ở Đông Triều, Hoành Bồ, Hạ Long. Không dừng lại ở đó, các đồng chí Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh còn trực tiếp đi kiểm tra nhiều lần tại các điểm, khu vực phức tạp như phường Hà Khánh (TP Hạ Long), khu vực Khe Chuối (TX Uông Bí), khu vực Mạo Khê, Bình Khê (huyện Đông Triều). UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên - Môi trường thành lập các Đoàn kiểm tra chuyên ngành; chỉ đạo Công an tỉnh yêu cầu công an các địa phương phối hợp với chính quyền và các đơn vị thuộc TKV tổ chức nhiều đợt ra quân ngăn chặn than trái phép.

Cần khẳng định rằng, với sự chỉ đạo, điều hành một cách thường xuyên và quyết liệt của các cấp lãnh đạo từ tỉnh tới cơ sở công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên than trên địa bàn tỉnh về cơ bản đảm bảo ổn định, duy trì được trật tự. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, với sự phức tạp từ đặc thù dân cư  sống xen kẽ trong ranh giới quản lý mỏ nên không tránh khỏi những vụ việc lợi dụng đặc điểm này để khai thác tài nguyên than trái phép theo kiểu nhỏ, lẻ. Song, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần quyết tâm giữ “vàng đen” cho Tổ quốc, chắc chắn Quảng Ninh tiếp tục làm tốt công tác này.

* Năm 2009, tỉnh xoá 494 lượt điểm khai thác than trái phép, kiểm tra, bắt giữ, xử lý 963 trường hợp vận chuyển, kinh doanh, chế biến than trái phép, thu giữa 62.000 tấn than trị giá 23 tỷ đồng, phạt hành chính 2,8 tỷ đồng.

* Đã khởi tố 26 vụ, 90 bị can liên quan đến than. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra 16 vụ, 122 bị can khởi tố năm 2008; kết luận điều tra, đề nghị truy tố 32 vụ với 168 bị can (đang điều tra 8 vụ, 25 bị can).

Cùng chuyên mục