Ở nhiều dân tộc, phần mộ người quá cố có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống con người. Người Sán Dìu coi tạ mộ là dịp để sửa sang “nhà cửa” người quá cố, song chủ yếu là để tạ ơn sơn thần thổ địa nơi chôn cất của người khuất đó, còn việc tưởng niệm vong hồn người chết lại chủ yếu ở nơi bàn thờ tại gia đình.
Ngôi nhà đang ở của các con trai, cháu trai người Sán Dìu cũng là nhà ở của vong hồn người quá cố. Với người Sán Dìu không nhất thiết cứ là con trai trưởng, cháu trai đích tôn mới được đặt bàn thờ tổ tiên mà tất cả các con trai, cháu trai đều được đặt bàn thờ tổ tiên, đều được thờ vong hồn bố, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ đã qua đời.
Phần mộ của người Sán Dìu thường được đặt trên núi hoặc đặt trên các gò đất cao. Trước khi chôn cất, họ mời pháp sư xem phong thủy và trấn trạch. Mỗi năm, người Sán Dìu thường tạ mộ một lần. Xưa đồng bào thường chọn ngày mồng 3 tháng 3 hoặc ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm để tạ mộ. Ngày nay, họ thường tạ mộ vào một ngày theo lịch quy định. Hoạt động tạ mộ của người Sán Dìu nay cơ bản vẫn giữ được nét văn hóa tâm linh độc đáo xưa truyền lại. Lễ vật tạ mộ, ngoài xôi, gà luộc, thịt lợn luộc, rượu trắng trái cây, tiền vàng mã... còn có thêm một số lễ vật đặc sắc khác như bánh bò (còn gọi là bánh thổi bò), đôi cá mực (hoặc cá rán, đĩa tôm rang hoặc hấp) và cơm ba màu (đỏ, đen, vàng). Mỗi lễ vật đặc sắc này đều có ý nghĩa riêng: Bánh thổi bò tượng trưng cho sự phát lên của ngôi mộ. Người Sán Dìu quan niệm: Nhà nào làm bánh thổi bò nở, xốp thì phần mộ nhà ấy rất “phát” và ngược lại. Ngôi mộ “phát”, con cháu ắt khỏe mạnh, gia trung vô sự, phát đạt và thịnh vượng, làm ăn tiến tới, công thành danh toại. Vì thế mỗi năm, đến ngày tạ mộ, nhà nào cũng cố gắng làm bánh thổi bò sao cho thật khéo, thật xốp, thật nở để hy vọng những điều tốt lành đến với gia đình họ. Đôi cá mực (hoặc cá rán, đĩa tôm rang hoặc hấp) tượng trưng cho thần suối. Việc cúng cá, tôm là để lễ tạ các thần linh nơi chín suối, cầu che chở cho vong hồn người chết được bình an. Cơm 3 màu (đỏ, đen và vàng được tạo nên bởi lá cây rừng có khả năng tạo màu sau khi đã đun nấu với nước, ngâm gạo nếp thổi xôi hoặc nấu bằng gạo tẻ, tùy vào khả năng “chế tác” của mỗi gia đình) tượng trưng cho “3 tấc đất” quàn thây người quá cố, là hình ảnh tượng trưng cho ngôi mộ. Việc cúng cơm 3 màu là để tạ ơn thổ công cai quản khu vực nơi phần mộ.
Tất cả con cháu của người quá cố đều được đi tạ mộ. Khi ra phần mộ, việc làm đầu tiên là người con trai, cháu trai hoặc trưởng tộc, thắp hương cúng sơn thần thổ địa, xin phép thổ thần được dọn dẹp, sửa sang lại “ngôi nhà” người quá cố. Sau đó, những người đi tạ mộ tập trung xới cỏ, phát cây quanh ngôi mộ hoặc đắp lại những chỗ ngôi mộ sạt lở do ngoại cảnh tác động.
Sau khi đã phát dọn sạch sẽ khuôn viên nơi phần mộ, mâm lễ cúng được đặt ra. Người con trai, cháu trai hoặc trưởng tộc sẽ tiến hành nghi thức lễ tạ mộ. Ngôn ngữ sử dụng trong lễ nghi tạ mộ là ngôn ngữ của dân tộc Sán Dìu. Người đi trong đoàn tạ mộ cùng lễ bái. Hoá tiền vàng xong, người ta thường bẻ cành cây có lá ở quanh ngôi mộ để quét sạch sân mộ, quét theo hướng vào ngôi mộ. Người quét mộ đi giật lùi, tránh để lại lốt chân, sợ làm ảnh hưởng đến sơn thần thổ địa. Cành lá cây làm chổi quét mộ được họ mang về cài trên mái các chuồng nuôi gia cầm, gia súc để “lấy khước”, có ý cầu mong nghiệp chăn nuôi của gia đình phát triển.
Sau khi tạ xong các phần mộ của gia đình, dòng tộc, họ trở về nhà. ở nhà, họ cũng sắp một mâm lễ vật đầy đủ như mâm lễ cúng tạ ở ngoài phần mộ để cúng gia tiên, cung thỉnh vong hồn những người quá cố về tại gia thượng hưởng, chứng dám lòng thành của người trần dương trong dịp tạ mộ mỗi năm.