Nhìn lại tình hình phát triển kinh tế 9 tháng đầu năm của tỉnh Quảng Ninh cho thấy một số chỉ tiêu kinh tế thực hiện đã đạt kế hoạch năm và tăng cao so với cùng kỳ, đặc biệt tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn vượt 3% dự toán năm.
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 76% kế hoạch năm và tăng 19,3% so với cùng kỳ, đáng lưu ý là sản xuất công nghiệp ở khu vực ngoài quốc doanh đã có sự tăng trưởng đáng kể, giá trị sản xuất đạt 1.016 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ). Các dự án quan trọng như than, nhiệt điện, xi măng đều đã được khởi công và quan tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện, như: Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh giai đoạn I: 600MW, Nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả giai đoạn I: 300 MW, Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 300MW đã hoàn thành sắp phát điện, nhiều khu công nghiệp được khởi công xây dựng như Hải Yên (Móng Cái), Khu đô thị du lịch-thương mại Phượng Hoàng...
Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn và có những chuyển biến tích cực, đời sống nông dân dần được cải thiện, tỷ lệ hộ dân nông thôn được dùng nước sạch từ 64% (cuối năm 2005) lên 66,8%; cơ sở hạ tầng nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư; trên toàn tỉnh đều đã xuất hiện các cánh đồng đạt tiêu chí thu nhập 40-50 triệu đồng/ha/năm...
Sản xuất VLXD một trong những mặt hàng đạt mức tăng trưởng khá trong 9 tháng qua. (ảnh: Thái Cảnh)
Hoạt động dịch vụ diễn ra sôi động với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 9 tháng ước đạt 7.562 tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ. Do đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến nên hoạt động du lịch khởi sắc hơn so với cùng kỳ, thu hút được 2,6 triệu lượt khách, đạt 86,6% kế hoạch, tăng 26% so với cùng kỳ; tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 1.166 tỷ đồng. Nét khác biệt của du lịch năm nay là khách du lịch không tập trung ở khu vực Bãi Cháy mà trải đều ra các nơi như Tuần Châu, Trà Cổ-Móng Cái và Vân Đồn; lượng khách quốc tế tăng trở lại do đã khai thông tuyến du lịch đường biển Bắc Hải (Trung Quốc) - Hạ Long. Số lượng khách quốc tế đến Quảng Ninh không chỉ có khách Trung Quốc mà còn có nhiều khách đến từ Mỹ, úc, ý, Nhật, Thái Lan. Lợi thế về cảng biển được khai thác tốt với sản lượng hàng hóa thông qua cảng 9 tháng đạt 20 triệu tấn, tăng 17% so với cùng kỳ.
Theo dự báo của Sở Kế hoạch và Đầu tư khả năng thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế năm 2006 sẽ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế tiếp tục được cải thiện. Đặc biệt tốc độ tăng trưởng kinh tế những tháng còn lại của năm sẽ đạt cao hơn các tháng đầu năm, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả năm 2006 có khả năng tăng 13,1%, đạt kế hoạch đề ra. Cơ cấu kinh tế (giá so sánh): nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 7,2%; công nghiệp và xây dựng 52%; các ngành dịch vụ 40,8%. GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2006 dự kiến đạt 14.215.000 đồng, tương đương 880 USD (bình quân cả nước ước từ 720-725 USD). Giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ dự kiến tăng 20% so với năm 2005, nếu làm tốt việc giảm chi phí có thể đưa giá trị gia tăng thêm ngành Công nghiệp và Xây dựng tăng 16%, đạt kế hoạch đề ra, trong đó khu vực công nghiệp quốc doanh (than, điện, đóng tầu...) và công nghiệp ngoài quốc doanh có sự tăng trưởng mạnh.
Mặc dù kinh tế đạt mức tăng trưởng khá nhưng có thể nhận thấy hầu hết các ngành kinh tế phát triển chưa bền vững. Ngành công nghiệp trong những năm gần đây mặc dù đạt tốc độ phát triển nhanh nhưng chủ yếu tập trung ở khối công nghiệp Trung ương còn công nghiệp địa phương của tỉnh phát triển còn chậm. Trong sản xuất, chi phí trung gian lớn nên hiệu quả đem lại còn hạn chế. Cơ cấu sản phẩm công nghiệp chưa có sự thay đổi, các sản phẩm công nghiệp của tỉnh vẫn xuất thô, sơ chế là chủ yếu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động trong nông nghiệp nông thôn chậm; giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích, năng suất lao động nông nghiệp thấp; một số chương trình hỗ trợ phát triển cây chè, chăn nuôi thực hiện chưa hiệu quả. Ngành du lịch bước đầu có khởi sắc trong hoạt động xúc tiến quảng bá nhưng những hạn chế như tính chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp chậm được khắc phục. Trong thời gian tới với sự hội nhập kinh tế, thương mại sâu và đầy đủ hơn nếu những tồn tại này chậm được cải thiện sẽ là rào cản lớn trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế. Cùng với đó là những khó khăn thách thức do khách quan đem lại rất lớn. Đó là sự biến đổi bất thường của giá cả thị trường, nhất là việc tăng giá xăng dầu và các loại vật tư đầu vào quan trọng sẽ gây áp lực đến chi phí và hiệu quả đầu tư, khả năng cạnh tranh và mặt bằng giá cả hàng hoá. Thách thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển bền vững ở một số ngành, một số vùng của tỉnh là rất lớn, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất than với các ngành kinh tế khác và công tác bảo vệ môi trường. Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể có những diễn biến phức tạp, gây ra những ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
Như vậy để vượt qua những khó khăn, thách thức tiến tới phát triển bền vững các ngành, địa phương cần thực hiện tốt những định hướng, giải pháp đã được tỉnh đề ra trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2006-2010 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh XII.