Trong những năm gần đây, ngành Y tế tỉnh được sự đầu tư mạnh mẽ của T.Ư và tỉnh. Nhờ đó, từ cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực cho đến các nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân của các đơn vị y tế trên địa bàn đều có những chuyển biến vượt bậc.
Hiện toàn tỉnh có 41 đơn vị sự nghiệp y tế, trong đó 21 đơn vị tuyến tỉnh; 20 đơn vị tuyến huyện. Tổng số giường bệnh được giao theo kế hoạch của các đơn vị y tế ở 2 tuyến này là 2.460, nhưng số thực kê lên tới hơn 3.470. Trên địa bàn còn có 10 phòng khám đa khoa khu vực (ĐKKV) với 105 giường bệnh lưu. Hệ thống tuyến huyện quản lý 14 phòng y tế và 186 trạm y tế xã. Với một mạng lưới y tế phủ kín toàn tỉnh, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân. Tuy nhiên, tình trạng quá tải bệnh viện (BV) vẫn diễn ra ở nhiều đơn vị, gây khó khăn cho cả cơ sở điều trị và người dân.
Bệnh viện Lao và Phổi tỉnh được khởi công xây dựng đầu năm 2008 bằng nguồn vốn của T.Ư và tỉnh, hiện đang được hoàn thiện.
Quan tâm công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân nhiều năm qua, tỉnh đã tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng phòng bệnh, khám, chữa bệnh cho người dân, xoá bỏ tình trạng 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường. Tính đến đầu năm 2009, 8 đơn vị y tế tuyến tỉnh đã được đầu tư xây mới bằng nguồn ngân sách của tỉnh, trong đó có những công trình trọng điểm, như: BV Lao và Phổi tỉnh, BV ĐKKV Bãi Cháy; 5 đơn vị y tế tuyến huyện được xây mới hoàn chỉnh, 5 trung tâm y tế tuyến huyện được xây mới một số đơn nguyên bằng nguồn vốn của Dự án Y tế nông thôn và Đề án 47/CP của Chính phủ (Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các BV chuyên khoa lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi và một số BVĐK tỉnh thuộc khu vực miền núi khó khăn, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2009-2013) cùng vốn đối ứng của tỉnh. Năm 2009, tỉnh đầu tư cho tuyến y tế xã hơn 18,6 tỷ đồng, góp phần đưa số trạm đạt chuẩn quốc gia về y tế xã lên 141/186 trạm. Cũng trong năm, T.Ư phân bổ từ nguồn vốn Đề án 47/CP cho Quảng Ninh khoảng 85 tỷ để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cho một số đơn vị y tế trên địa bàn. Trên cơ sở rà soát quy mô, cơ sở vật chất, nhu cầu đầu tư, UBND tỉnh đã phê duyệt chi tiết nguồn vốn trên (lồng ghép, kết hợp với các nguồn vốn khác) cho 4 BVĐKKV (Móng Cái, Tiên Yên, Cẩm Phả, Bãi Cháy), 10 BVĐK huyện và 5 phòng khám ĐKKV. Tính đến tháng 9-2009, giá trị khối lượng hoàn thành là gần 70 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân gần 54 tỷ đồng. Tỉnh cũng đã ra quyết định phê duyệt đến năm 2015 tăng thêm tổng số 1.100 giường bệnh cho BVĐK tỉnh, 4 BVĐKKV nói trên, tập trung nguồn lực nâng cấp, xây dựng cơ sở vật chất, trang sắm thiết bị cho 5 BV này. Như: ngoài khu nhà 7 tầng do tỉnh đầu tư cho BVĐKKV Bãi Cháy (hiện đang hoàn thiện) năm 2010, BV này tiếp tục được đầu tư xây dựng thêm hai khu nhà 12 tầng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân khu vực Bãi Cháy, khu vực các huyện, thị xung quanh và khách du lịch trên địa bàn. BVĐK tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt đầu tư xây dựng khoa lây v.v... Tỉnh sẽ tranh thủ nguồn vốn T.Ư (trái phiếu Chính phủ) và vốn đối ứng của tỉnh để mở rộng, nâng cấp các đơn vị y tế tuyến huyện. Cũng trong năm 2010, tỉnh sẽ khởi công xây dựng BV Sản - Nhi, tổng kinh phí hơn 135,6 tỷ đồng, trong đó T.Ư hỗ trợ 60%, còn lại từ ngân sách của tỉnh, dự kiến hoàn thành vào năm 2012.
Các đơn vị y tế trên địa bàn còn được đầu tư trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác khám, chữa bệnh. Đến thời điểm này, 100% các đơn vị y tế được trang bị thiết bị y tế cơ bản, như: Máy chụp X.quang, siêu âm, máy xét nghiệm huyết học, sinh hoá máu, máy xét nghiệm nước tiểu, thiết bị phòng mổ... Tỉnh cũng đầu tư cho BVĐK tỉnh máy chụp cắt lớp điện toán CT- Scaner bằng nguồn ngân sách. Các đơn vị trung tâm y tế tuyến tỉnh, hệ y tế dự phòng cũng từng bước được nâng cấp về trang thiết bị, đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh thông thường của người dân. Trong năm 2009, Bộ Tài chính cấp bổ sung 14,5 tỷ đồng cho Quảng Ninh để mua thuốc, vật tư, hoá chất phục vụ công tác phòng chống dịch cúm A/H1N1; UBND tỉnh phê duyệt đầu tư gần 7 tỷ đồng cho BV Lao và Phổi tỉnh, 170 tỷ đồng cho BVĐK tỉnh để đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho người dân. Nhiều đơn vị y tế ở tuyến tỉnh, huyện, xã đã chủ động đẩy mạnh công tác xã hội hoá với hình thức liên doanh, liên kết, huy động vốn đóng góp của cán bộ, viên chức trong đơn vị để trang sắm các máy móc, thiết bị y tế hiện đại, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao của người dân. Tính đến tháng 8-2009, các đơn vị y tế trực thuộc Sở Y tế đã đầu tư hơn 70,3 tỷ đồng bằng nguồn vốn của nhà đầu tư và vốn huy động cán bộ, viên chức để trang sắm, lắp đặt các thiết bị y tế. Nhờ vậy, nhiều BV đã có những thiết bị hiện đại bằng, thậm chí còn hơn một số bệnh viện tuyến T.Ư. Để góp phần đào tạo đội ngũ y, bác sĩ của tỉnh, ngoài sự chủ động của các đơn vị, tỉnh cũng đã làm việc với Trường Đại học Y Hà Nội bàn về việc đào tạo nhân lực ngành Y cho Quảng Ninh, phối hợp với một số trường đại học y trong nước mở các lớp đào tạo bác sĩ tuyến xã, cử tuyển chính quy theo địa chỉ; đào tạo bác sĩ, dược sĩ theo địa chỉ. Từ năm 2006 đến tháng 8-2009, ngân sách tỉnh đã chi hơn 5 tỷ đồng cho công tác đào tạo bác sĩ và bổ túc chuyên môn nghiệp vụ cho ngành Y tế.
Với sự đầu tư mạnh mẽ, toàn diện của tỉnh, của T.Ư, đã giúp các đơn vị y tế trên địa bàn nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, triển khai được nhiều kỹ thuật hiện đại, góp phần chẩn đoán chính xác bệnh và điều trị bệnh hiệu quả; công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia có chất lượng. Năm 2008, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 20% thì năm 2009 giảm xuống còn 18,7%. Số người đến các cơ sở y tế của tỉnh khám, chữa bệnh ngày càng tăng. Năm 2009, các đơn vị y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện khám bệnh cho tổng số hơn 1.855 nghìn lượt người, tăng gần 135 nghìn lượt so với năm 2008; tiến hành phẫu thuật hơn 29.300 ca. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục lồng ghép các đề án của T.Ư với đề án đang thực hiện của tỉnh và các nguồn lực khác để phấn đấu đạt mục tiêu đến hết năm 2010 cơ bản hoàn thành việc đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các BV huyện, BVĐKKV, phòng khám ĐKKV một cách tương đối toàn diện... Từ đó đưa các dịch vụ kỹ thuật y tế về gần dân hơn, tạo điều kiện cho người nghèo, người dân ở vùng núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng, góp phần giảm thiểu tình trạng quá tải cho các đơn vị y tế tuyến trên, nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân trong tỉnh.