Những năm qua hoạt động sản xuất than đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đồng thời tạo nên những cụm công nghiệp lớn cùng hệ thống hạ tầng đồng bộ trên địa bàn Quảng Ninh. Tuy nhiên, hàng năm lượng đất đá thải sinh ra trong quá trình khai thác đến 150 triệu m3, các bãi thải hầu như chưa được cải tạo, phủ thảm thực vật nên là nơi phát tán bụi.
Cây keo được trồng trên mặt bãi thải Nam Lộ Phong Công ty CP Than Hà Tu - TKV.
Khắc phục những tồn tại về ô nhiễm do sản xuất than gây ra, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thành lập một bộ máy quản lý bảo vệ môi trường từ Tập đoàn đến các doanh nghiệp thành viên và xây dựng các văn bản quy định nội bộ về bảo vệ, phòng ngừa sự cố môi trường; gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với việc đánh giá hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đối với tập thể, cá nhân. Cùng với đó TKV phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh xây dựng các dự án tổng thể khắc phục ô nhiễm môi trường do khai thác than nhiều năm trên địa bàn để lại như: Công trình cải tạo môi trường, cảnh quan bãi thải Nam Đèo Nai; bãi thải chính Bắc (Công ty CP Than Núi Béo); công trình cải tạo môi trường, cảnh quan sông Mông Dương; công trình xử lý nước thải Cọc Sáu - Đèo Nai; công trình trồng cây cải tạo môi trường khu vực Nam Khe Sim; công trình cải tạo cảnh quan môi trường sông Vàng Danh...
Tại buổi làm việc với đoàn công tác của HĐND tỉnh do đồng chí Lê Thị Bích Hường, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn, khảo sát việc thực hiện cam kết của TKV tại kỳ họp thứ 14, HĐND tỉnh khoá XI trong cải tạo, phục hồi môi trường, ông Bùi Văn Khích, Phó Tổng Giám đốc TKV cho biết: “Vấn đề cấp bách đặt ra với TKV hiện nay là vừa phải giải quyết hậu quả ô nhiễm môi trường do lịch sử để lại, vừa phải giải quyết những vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất hiện tại. Do vậy, TKV đang tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm như chống bụi trong chế biến, vận chuyển than; xử lý nước thải mỏ, xử lý các hồ thuỷ lợi tại Đông Triều; cải tạo bãi thải và phủ thảm thực vật; chống trôi lấp đất đá thải và nạo vét sông, suối”. Qua tìm hiểu được biết TKV đã tiến hành xây dựng một hệ thống đường chuyên dùng để chở than, đất đá tách hẳn khỏi Quốc lộ 18A và tỉnh lộ 337. Cho đến nay, nhiều tuyến đường chuyên dùng đã được hình thành và đưa vào sử dụng. Vùng Đông Triều - Mạo Khê có tuyến đường từ mỏ Mạo Khê ra cảng Bến Cân, đồng thời đoạn đường từ Quốc lộ 18A ra cảng Bến Đụn đã được sửa chữa, nâng cấp mặt đường. Vùng Uông Bí có tuyến đường từ mỏ Vàng Danh ra cảng Điền Công, tuyến đường vào mỏ Khe Chuối - Hồ Thiên, đường từ nhà sàng Tràng Khê ra Quốc lộ 18A. Vùng Hòn Gai có tuyến đường từ Núi Béo ra cảng Nam Cầu Trắng, hiện tại đang thi công tuyến đường từ mỏ Hà Tu - Hà Lầm ra cảng Làng Khánh. Vùng Cẩm Phả có các tuyến đường chuyên dùng từ Bàng Nâu - Bắc Cọc Sáu ra cảng Khe Dây; đường từ mỏ Cọc Sáu ra cảng cầu 20; từ Trung tâm Ngã Hai ra đường 86 về cảng Km6; đường từ Lộ Trí - Thống Nhất nối với đường chân đê Nam Đèo Nai... Với các tuyến đường này, than từ các mỏ Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn, Bàng Nâu, Khe Chàm... sẽ không còn chạy trên Quốc lộ 18A và hạn chế đi qua các khu dân cư. Bên cạnh đường bộ, TKV sẽ tăng cường đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến đường sắt, hệ thống băng tải chuyên vận chuyển than và xây dựng các xilo chứa than tại cảng để hạn chế và tiến tới chấm dứt vận tải than bằng đường bộ, giải toả các bến bãi ở các cảng để đến năm 2020 sẽ trả lại cảnh quan cho bờ Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Tại Mạo Khê, TKV đã khởi công xây dựng tuyến băng tải ống từ mặt bằng +56 ra cảng Bến Cân; ở Hạ Long, sẽ xây dựng một tuyến băng tải đưa than vào Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh còn tại Uông Bí, tuyến đường sắt Vàng Danh - điện Uông Bí sẽ được nâng gấp đôi công suất...
Cùng với đó TKV đã tiến hành cải tạo bãi thải Nam Đèo Nai, bãi thải Chính Bắc (Công ty CP Than Núi Béo - TKV) và bãi thải Nam Lộ Phong (Công ty CP Than Hà Tu - TKV). Bãi thải Nam Đèo Nai đến thời điểm này đã cơ bản hoàn thành, các tầng đã được san gạt với chiều cao tầng từ 20-25 mét, rộng 20-30 mét, góc dốc 36 độ ; cả hai bãi thải trên đều đã có hệ thống mương thoát nước, đê, đập chắn đất đá để tránh tràn vào khu vực sản xuất cũng như khu vực dân cư. Tại vùng Đông Triều, Công ty TNHH Một thành viên Than Mạo Khê-TKV đã tổ chức hoàn thổ tại 16 điểm lộ vỉa thuộc đất vườn, đất ở của nhân dân và dự án đầu tư sản xuất của đơn vị với tổng khối lượng là 1.765.852m3. Ngoài ra đơn vị còn xây dựng hệ thống bể lắng để thu gom nước thải sinh hoạt và xử lý bằng công nghệ sinh học trước khi thải ra môi trường; thường xuyên tưới nước chống bụi các tuyến đường vận chuyển than và làm ẩm than trước khi nổ mìn; nâng cấp các tuyến đường vận chuyển than qua khu vực dân cư; xây dựng tường bao ở các kho than và đầu tư tuyến băng tải ống từ nhà sàng 56 ra cảng Bến Cân đồng thời trồng hơn 16ha cây xanh tại các khu vực đã chấm dứt khai thác. Hiện Công ty Xây dựng Công trình Môi trường mỏ - TKV đang tiến hành cải tạo môi trường khu vực các hồ Cầu Cuốn, Nội Hoàng, Khe Ươn. Theo đó đơn vị thi công sẽ nạo vét lòng hồ với tổng khối lượng khoảng 1,5 triệu m3 đất đá; xử lý nước trong hồ bằng dung dịch sữa vôi; cải tạo các moong thành hồ trung gian để lắng đọng đất đá trước khi chảy vào hồ; san gạt bề mặt, chia tầng theo độ dốc và trồng các loại cây tại các bãi đổ thải; xây dựng các kè bảo vệ bờ hồ và các đập lọc, đập tràn... Tuy nhiên vấn đề xử lý nước thải mỏ vẫn là điều nan giải bởi khối lượng và đặc tính nước thải biến động rất lớn giữa hai mùa mưa và khô, thậm chí trái ngược hẳn nhau. Nước thải mỏ có tính axít vào mùa khô nhưng trung tính vào mùa mưa, có hàm lượng cặn lơ lửng rất cao vào mùa mưa nhưng lại rất thấp vào mùa khô, lại có dầu nên tạo độ nhớt cao gây chậm lắng đọng.
Để môi trường vùng mỏ ngày một tốt hơn nữa, trong năm 2009 TKV tiếp tục tập trung khắc phục sự bất cập, thiếu đồng bộ của hệ thống hạ tầng giao thông bao gồm hệ thống đường bộ, đường liên mỏ, đường sắt, hệ thống băng tải vận chuyển than và hệ thống cảng biển, bến thuỷ. Xử lý xong các bãi thải cao ở khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả; cải tạo và duy trì hệ thống thoát nước mỏ đảm bảo không gây ngập úng các khu dân cư; xử lý nước thải mỏ đạt tiêu chuẩn môi trường đồng thời hình thành một Tổ hợp công nghiệp môi trường tại Cẩm Phả (Nhà máy nhiệt điện đốt than xấu, trạm xử lý nước thải mỏ Cọc Sáu, xưởng sản xuất vật liệu từ tro, xỉ của nhà máy điện...)