Những năm qua Quảng Ninh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, các doanh nghiệp ngày càng mở rộng cả về số lượng lẫn quy mô, tuy nhiên tình hình tai nạn lao động nghiêm trọng lại luôn nằm trong tốp dẫn đầu cả nước (đứng thứ 2 sau TP Hồ Chí Minh).
Mặc dù công tác đảm bảo AT-VSLĐ đã được các cấp, ngành, doanh nghiệp triển khai tương đối tốt ở một số lĩnh vực: Tuyên truyền; hồ sơ, sổ sách quản lý; huấn luyện định kỳ; công tác thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra, giám sát; cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Các doanh nghiệp ngành Than và doanh nghiệp nhà nước đóng trên địa bàn đều có bộ máy làm công tác an toàn chuyên trách bao gồm những cán bộ có trình độ chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trong điều hành sản xuất; có Hội đồng BHLĐ đủ các thành phần theo qui định; một số doanh nghiệp đã bố trí từ 7-15 cán bộ chuyên trách làm công tác an toàn lao động, 100-200 AT-VSV; đặc biệt ngành Than đã thành lập hệ thống giám sát an toàn ở các đơn vị và bố trí 1 phó giám đốc phụ trách an toàn ở các đơn vị hầm lò. Thế nhưng tình hình TNLĐ trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, nguy cơ mất an toàn còn tiềm ẩn; các sự cố như sập đổ lò, cháy nổ khí, bục nước vẫn xảy ra. Trong năm 2008, trên địa bàn tỉnh xảy ra 350 vụ tai nạn lao động làm 41 người chết, 210 người bị thương nặng và 167 người bị thương nhẹ. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn về ATLĐ của tỉnh thì TNLĐ xảy ra trên địa bàn Quảng Ninh chủ yếu tập trung ở ngành Than (chiếm trên 80%) và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tai nạn trên địa bàn tỉnh vẫn là do trình độ, kinh nghiệm của công nhân còn hạn chế, thiếu thận trọng trong thao tác, chủ quan, vi phạm quy trình, quy định kỹ thuật an toàn, sự phối hợp công việc trong nhóm thợ chưa tốt; chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cán bộ phòng ban, lãnh đạo đơn vị chưa đảm bảo. Việc quản lý, tổ chức điều hành sản xuất, chỉ đạo thi công của cán bộ công trường, phân xưởng chưa đầy đủ theo đúng thiết kế, hộ chiếu, quy trình kỹ thuật; bố trí lao động, phân công công việc không cụ thể, thiếu biện pháp kỹ thuật an toàn; không phát hiện được nguy cơ mất an toàn để chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng tránh tai nạn lao động; công tác huấn luyện, tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành nội quy, quy trình, quy định cho công nhân không hiệu quả. Nhận thức về ý thức và trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp chưa đồng đều và còn yếu tại đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cơ sở sản xuất tư nhân nên công tác AT-VSLĐ chưa được quan tâm đúng mức, còn xem nhẹ công tác an toàn lao động, không lập kế hoạch BHLĐ hàng năm, né tránh hoặc đầu tư trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân, điều kiện làm việc cho người lao động chưa tương xứng với quy mô sản xuất. Công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến các qui định pháp luật về an toàn lao động ở một số đơn vị còn yếu, chưa thường xuyên, có chỗ có nơi còn mang tính hình thức (nhất là ở các phân xưởng, tổ sản xuất) làm cho người lao động chưa nhận thức đầy đủ về công tác AT-VSLĐ nên thiếu ý thức tự bảo vệ. Thí nghiệm nổ khí mê-tan (CH4) trong đường lò giả định tại Trung tâm An toàn mỏ. ảnh: T.Q
Việc áp dụng hình thức khoán sản phẩm trong điều kiện chưa kiểm soát được việc thực hiện của người lao động đã dẫn tới tình trạng người lao động đã bớt xén qui trình và không tuân thủ đầy đủ các biện pháp kỹ thuật an toàn. Công tác quản lý nhà nước về an toàn lao động thiếu sự quan tâm thường xuyên của cấp uỷ, chính quyền một số địa phương. Qua điều tra 37/40 vụ TNLĐ chết người trên địa bàn, Đoàn điều tra tai nạn lao động tỉnh đã yêu cầu các đơn vị thực hiện 183 kiến nghị; xử phạt hành chính 1 đơn vị với số tiền 15 triệu đồng; đề nghị cơ quan pháp luật xem xét trách nhiệm hình sự 3 vụ TNLĐ xảy ra tại Cảng Quảng Ninh, Công ty cổ phần LILAMA 69-2, Công ty Than Khe Chàm -TKV. Các đơn vị để xảy ra tai nạn lao động đã xử lý kỷ luật 202 người, trong đó có: 23 chánh phó giám đốc; 38 trưởng phó phòng ban; 30 cán bộ phòng ban; 70 chánh phó quản đốc; 24 lò trưởng, tổ trưởng sản xuất và 17 công nhân với các hình thức: Khiển trách 145 người; cảnh cáo 8 người; hạ bậc lương, chuyển làm việc khác có mức lương thấp hơn 15 người; cách chức 34 người.
Để nâng cao ý thức và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động, hạn chế tối đa tình trạng vi phạm pháp luật lao động và giảm thiểu tai nạn lao động, nhất là tai nạn lao động chết người xảy ra trên địa bàn tỉnh, các cấp, ngành, doanh nghiệp cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cả các cơ quan quản lý, người lao động, người sử dụng lao động hơn nữa để mọi người cùng tự giác thực hiện, nhanh chóng đưa công tác an toàn trong lao động sản xuất thành phong trào của quần chúng, quan tâm nhiều hơn đến người lao động và cán bộ trực tiếp chỉ huy sản xuất. Tập trung vào công tác phòng ngừa là chính, các doanh nghiệp ngành Than khẩn trương đầu tư và đưa vào hoạt động các thiết bị thăm dò nước, hệ thống cảnh báo khí tự động; tăng cường các hoạt động kiểm tra điều kiện an toàn lao động tại các vị trí sản xuất để xác định rõ và thực hiện biện pháp phòng tránh các nguy cơ gây tai nạn lao động, kiên quyết dừng sản xuất đối với các vị trí mất an toàn hoặc chưa kiểm soát được nguy cơ cháy nổ khí và bục nước. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trong việc phòng tránh TNLĐ, các doanh nghiệp phải chủ động đào tạo chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ an toàn cho đội ngũ người lao động. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực AT-VSLĐ; mở rộng phạm vi và đối tượng thanh tra, tập trung vào các doanh nghiệp có nguy cơ cao về TNLĐ (khai thác hầm lò, khai thác đá, quản lý và sử dụng thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vật liệu nổ công nghiệp), doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công trình trọng điểm. Nâng cao vai trò, trách nhiệm tự kiểm tra và xử lý của tổ trưởng sản xuất trong ca, đặc biệt quan tâm lưu ý giai đoạn đầu ca sản xuất. Hàng tháng trên cơ sở kế hoạch, điều kiện sản xuất cụ thể của đơn vị mình, quản đốc phải dự báo được các nguy cơ mất an toàn và đề ra biện pháp phòng tránh; trình lãnh đạo phê duyệt. Các doanh nghiệp rà soát bổ sung hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy trình làm việc của đội ngũ cán bộ chỉ huy từ tổ trưởng sản xuất trở lên. Kiên quyết không nghiệm thu các sản phẩm, công trình làm sai, bớt xén quy trình, không đảm bảo an toàn. Quy định cụ thể chế độ giao ca, nhật lệnh cho phù hợp với điều kiện thực tế và thời giờ làm việc của từng bộ phận trong dây chuyền sản xuất. Tổng kiểm tra điều kiện an toàn lao động tại các vị trí làm việc; bổ sung đầy đủ hệ thống biển báo, biển cấm, biển chỉ dẫn; sàn thao tác; lối, bậc đi lại; các bộ phận che chắn...