Trong khi tình trạng thiếu điện ngày càng trầm trọng thì tiến độ triển khai các dự án nhiệt điện trên địa bàn tỉnh vẫn theo tốc độ “rùa”. Và điều đáng nói hơn cả trong lúc này, ở hầu hết các dự án, chủ đầu tư không thể kiểm soát được tình hình.
Ngay từ đầu mùa khô năm nay, tình trạng căng thẳng nguồn điện đã xuất hiện. Nguyên nhân là do các nhà máy thủy điện không đủ nước, khiến các nhà máy nhiệt điện phải chạy hết công suất. Thậm chí, một số nhà máy chưa nghiệm thu (như Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh) vẫn phải chạy phát điện. Quy hoạch điện quốc gia được xây dựng từ năm 2006 (Quy hoạch điện Vl), sau một nửa chặng đường triển khai đã cho thấy, hầu như các dự án nhiệt điện trên địa bàn tỉnh đều chậm tiến độ. Việc chậm tiến độ của các dự án nhiệt điện được xác định là do khâu chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu; giá điện; nguồn than... Dự án Nhiệt điện Mạo Khê - Quảng Ninh (công suất 440MW), bị chậm tiến độ 2 năm so với Quy hoạch VI đề ra, là một ví dụ điển hình. Theo đại diện Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), do có sự thay đổi của Nghị định 16 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, báo cáo đầu tư, TKV đã phải thay đổi lại báo cáo đầu tư. Hơn nữa, một số nghị định, thông tư mới ban hành bị thiếu một số quy định cụ thể nên không có cơ quan nào đứng ra phê duyệt đánh giá tác động môi trường cho dự án có công suất dưới 600MW này. Từ kinh nghiệm triển khai các dự án nhiệt điện trong 12 năm qua, đại diện TKV cho biết, các chủ đầu tư đang mất quá nhiều thời gian vào các khâu hoàn thiện thủ tục phê duyệt dự án (thường từ 6 tháng đến 1 năm) phát hành hồ sơ mời thầu, giải phóng mặt bằng (1-2 năm), thủ tục hải quan, xin giấy phép nhập thiết bị. Đặc biệt, do những hạn chế trong qui định chọn nhà thầu, chủ đầu tư thường không chỉ mất nhiều thời gian vào khâu này mà còn khó lòng chọn được nhà thầu có năng lực, chất lượng và kinh nghiệm theo tiêu chí giá. Dự án Nhiệt điện Quảng Ninh giai đoạn l công suất 600MW, tiến độ thi công xây dựng chậm 13 tháng so với tiến độ cấp Chứng chỉ nghiệm thu tạm thời (PAC). Tổ máy 2 Nhiệt điện Quảng Ninh l tiến độ thi công cũng bị chậm so với mốc tiến độ hợp đồng 11 tháng, hiện đang ở tháng thứ 46. Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh cho biết, theo quy định trong Hợp đồng EPC được ký với Tập đoàn Điện khí Thượng Hải Trung Quốc (SEC) tổ máy số 1 dự án Nhiệt điện Quảng Ninh I (công suất 300MW) cấp PAC vào ngày 15-2-2009. Tuy nhiên, do nhà thầu SEC không thực hiện đúng tiến độ hợp đồng nên EVN đã chấp thuận cho SEC lùi tiến độ cấp PAC tổ máy số 1 vào tháng 10-2009. Song, đến nay, khối lượng thi công phần xây lắp của nhà thầu SEC mới đạt khoảng 80%. Nguyên nhân chủ yếu đối với việc chậm tiến độ ở dự án này là do nhà thầu thiếu nhân lực. ở thời điểm thi công nước rút đối với Nhiệt điện Quảng Ninh I, cần đến 4.500 người tham gia thi công mới đảm bảo tiến độ, trong khi đó nhà thầu chỉ huy động được một nửa (1.225 người) trực tiếp thi công trên công trường. Và cũng do nhà thầu tập trung thi công bù tiến độ cho Nhiệt điện Quảng Ninh I nên Nhiệt điện Quảng Ninh II thiếu nhân lực và thiết bị trầm trọng. Trong khi đó, với gói thầu Nhiệt điện Quảng Ninh II, hiện tại hợp đồng vay vốn giữa EVN và China Eximbank chưa có hiệu lực. Do đó, một số công việc đã thi công xong có hồ sơ thanh toán nhưng chưa thế giải ngân cho nhà thầu. Vì thế, nhà thầu đang ngừng thi công. Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả l và II do Công ty cổ phần Nhiệt điện Cẩm Phả làm chủ đầu tư có tổng công suất 600MW. Cho đến thời điểm hiện tại Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả I đã hoàn thành cơ bản các phần: lò hơi, hệ thống làm mát, hệ thống thải chính. Đối với các hạng mục cung cấp nhiên liệu, đường ra bãi tro xỉ, kho tàng, nhà xưởng, hệ thống đường nội bộ, hàng rào chiếu sáng toàn bộ nhà máy vẫn đang được triển khai. Theo tiến độ đã ký kết, Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả l đang chậm 9 tháng. Nguyên nhân chủ yếu là do nhà thầu không đảm bảo về nhân lực. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn của tỉnh, ngoài các nguyên nhân kể trên, thì các dự án nhiệt điện này đều có chung một tình trạng đó là chậm phê duyệt thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công. ở các dự án nhiệt điện như Quảng Ninh, Cẩm Phả còn có sự khác nhau giữa tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam và Trung Quốc, tư vấn nhà thầu ở xa nên làm chậm công tác thẩm tra, thoả thuận và hiệu chỉnh thiết kế. Lực lượng giám sát không đủ nên việc hiệu chỉnh thiết kế không kịp thời gây chậm tiến độ. Việc chuẩn bị hồ sơ mời thầu cho các dự án thường bị chậm do phụ thuộc vào tiến độ phê duyệt thiết kế kỹ thuật. Cung cấp bản vẽ công nghệ và cung cấp thiết bị công nghệ của nhà chế tạo thường không đáp ứng yêu cầu tiến độ và không đồng bộ.
Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả 2 đang được nhà thầu nỗ lực thi công lắp đặt thiết bị để bù lại tiến độ bị chậm.
Như vậy, việc đảm bảo tiến độ các dự án điện để phục vụ cho phát triển kinh tế đặt ra là rất khó khăn và tình trạng thiếu điện sẽ còn tồn tại trong nhiều năm tới nếu không có biện pháp tích cực cải thiện tiến độ các dự án.