Thanh Lân, nơi mùa xuân đến sớm

Chuyến tàu chiều đưa khách từ Vân Đồn về Cô Tô vừa ra đến Cửa Đối bỗng vặn mình theo những con sóng lừng dữ dội. Mặc dù còn gần một tháng nữa mới đến Tết Mậu Tý song không khí xuân dường như đã tràn ngập đâu đây, len lỏi trong những câu chuyện, lời hỏi han của hành khách; toát lên từ những kiện hàng hành khách mang về từ đất liền, nào mứt tết, kẹo bánh, rượu bia, hoa quả...

Tàu cập bến cảng Cô Tô sôi động hơn thường nhật, tiếng nói cười vui vẻ nơi dòng người đang ngóng đợi những người thân về ăn tết, đón chuyến hàng mang hương vị ngày xuân từ đất liền đến với đảo xa...

Và mặc dù đang háo hức với không khí sôi động ấy nhưng chúng tôi vẫn phải vội vã gọi ngay một ''cuốc'' xe ôm để kịp chuyến đò sang Thanh Lân. Đò chiều chật cứng người. Anh lái đò cho hay, anh đã làm nghề chạy đò nhiều năm nay. Mỗi dịp tết đến xuân về, những chuyến đò luôn chật cứng hành khách và chủ yếu là người đi làm ăn xa, hoặc những cặp vợ chồng trẻ đi sắm tết; người tranh thủ đi thăm gia đình sớm để kịp về ăn tết trên đảo; ngày càng ít người từ đảo về ăn tết trong đất liền, vì theo anh, cuộc sống của người dân trên đảo đã bớt khó khăn nhiều rồi. Sau 40 phút, đò cập bến cá Thanh Lân, dọc bãi biển, những căn nhà mái ngói, mái bằng mới xây còn thơm mùi vữa nằm sát bên nhau hướng mặt ra biển. Những ô, bể đều tăm tắp phía ngay sát bãi triều mà chị hành khách cùng chuyến đò khoe với tôi đó là những bể sứa, bể mắm. Nhiều năm gần đây, nghề khai thác và chế biến sứa, chưng cất nước mắm đã đem lại thu nhập cao cho nhiều hộ dân trong xã.

Thanh Lân, nơi mùa xuân đến sớm ảnh 1
Đánh vẹm, một nghề mang lại thu nhập ổn định cho phần lớn các hộ dân xã Thanh Lân (Cô Tô).

Là xã đảo, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 2,5 ngàn ha nhưng diện tích đất dành cho canh tác nông nghiệp lại ít, phân tán, phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tự nhiên, nên sản lượng lương thực những năm trước đây rất thấp. Xác định nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của xã, với quyết tâm không chịu lệ thuộc quá lớn vào điều kiện tự nhiên, được sự quan tâm của tỉnh, huyện, xã đã huy động thêm nguồn vốn đóng góp từ trong dân tiến hành xây dựng, sửa chữa hệ thống mương máng, hồ, đập dẫn nước tưới tiêu, đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, những diện tích cấy lúa kém hiệu quả, xã chủ trương vận động nhân dân chuyển sang trồng các loại rau màu hay nuôi cá nước ngọt. Công tác hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật gieo trồng, cung ứng vật tư, giống lúa mới có năng suất cao cũng đã được xã chú trọng quan tâm đúng mức, vì vậy mà diện tích gieo trồng không ngừng được mở rộng, tỷ lệ quay vòng sử dụng đất tăng lên đáng kể, sản lượng lương thực của xã liên tục tăng. Năm 2004, sản lượng lương thực đạt 134,5 tấn, tăng 33 tấn so với năm 2000. Nhận thấy việc khôi phục và phát triển các loại cây ăn quả, nhất là cây cam từ lâu đã là một đặc sản của địa phương, sẽ góp phần giúp người dân phát triển kinh tế gia đình, xã đã vận động nhân dân khôi phục lại những vườn cam bản địa, phát triển giống cam này và nhân rộng diện tích bằng cách hỗ trợ người dân cây giống, phân bón. Từ cách làm này, đến nay nhiều hộ gia đình có những vườn cam từ 300-500 gốc, cho thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm. Các hoạt động dịch vụ khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại trên địa bàn trong những năm gần đây cũng có sự phát triển vượt bậc. Đặc biệt năm 2007, toàn xã đã khai thác được gần 1000m3 cát, đá hộc và sản xuất được 2.700 lít nước mắm, chế biến được 15.200 thùng sứa thành phẩm. Nước mắm do nhân dân trong xã chưng cất bán ra thị trường được người tiêu dùng đánh giá cao bởi hương vị đậm đà của cá duội Cô Tô, không lẫn với nước mắm của bất cứ địa phương nào.

Ngư nghiệp là tiềm năng, thế mạnh trong cơ cấu kinh tế của xã nên từ lâu xã coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn góp phần ổn định đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho bước đột phá về kinh tế. Trong những năm qua chính quyền địa phương đã có những chủ trương, định hướng đúng đắn tạo sự phát triển bền vững cho ngành kinh tế này trên cả 3 lĩnh vực: Khai thác, nuôi trồng và chế biến. Để thực hiện tốt chủ trương, định hướng đề ra, từ những nguồn vốn ưu đãi của nhà nước, một mặt xã khuyến khích ngư dân vay vốn đầu tư trang thiết bị tàu thuyền, ngư cụ hướng ra khai thác tuyến khơi, mặt khác được sự ủng hộ của huyện, xã đã quy hoạch vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản; giao bãi triều đến tay người dân để họ nuôi trồng các loại hải sản cho giá trị kinh tế cao như: Cá song, cá giò, cá hồng mỹ, tôm hùm, ốc màu, ốc hương, hải sâm đen... Từ cách làm này, đến nay toàn xã đã có 65 phương tiện tàu thuyền đánh bắt tuyến khơi với tổng công suất 1.654 CV. Các loại ngư cụ khác như lưới, chã... đều được đầu tư hiện đại nên sản lượng khai thác hàng năm liên tục tăng. Năm 2007, tổng sản lượng hải sản khai thác đạt 1.856 tấn, trong đó cá các loại 1.225 tấn, mực 140 tấn, hải sản khác 491 tấn; tăng 1.356 tấn so với năm 2.000; tạo công ăn việc làm cho 506/631 lao động toàn xã. Hoạt động nuôi trồng thuỷ, hải sản trong những năm qua mặc dù gặp nhiều rủi ro do thiên tai, song đến nay vẫn được duy trì và có bước phát triển đáng kể. Toàn xã đã nuôi được trên 4.000 con cá song, 3.000 cá hồng mỹ, trên 4 vạn ốc hương và trên 3 tấn ốc khác các loại. Các dự án nuôi cá lồng bè trên biển cũng đã được triển khai trong thời gian gần đây hứa hẹn nhiều triển vọng cho nghề nuôi trồng và chế biến thuỷ sản của xã, mang lại cuộc sống no ấm, khá giả cho nhiều hộ ngư dân xã đảo.

Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng trọng điểm như: Mạng lưới giao thông, trường học, bưu điện, trạm xá, cầu cảng, hồ chứa nước, nhà sinh hoạt cộng đồng, trụ sở UBND xã... đã được đầu tư xây mới và nâng cấp khang trang phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt, tuyến đường bê tông xuyên đảo có chiều dài 12km được khởi công năm 2001 với tổng mức đầu tư trên 2,2 tỷ đồng được khánh thành và đưa vào sử dụng năm 2003 làm cho hoạt động giao thông trên đảo diễn ra thuận lợi, không còn cảnh như một hộ dân tâm sự: ''Ngày mới ra đảo lập nghiệp, đường sá lầy lội, lắm dốc cao, kè đá, muốn đi đâu cứ phải chống gậy mà đi''. Hiện nay, trường THCS của xã đang đi vào khâu hoàn thiện, với 2 tầng và gần chục phòng học khang trang, sẽ đưa vào sử dụng đầu năm 2008, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong xã, không còn cảnh học sinh tiểu học và trung học cơ sở phải học chung trường, xoay vòng các buổi học sáng - chiều.

Rời trụ sở UBND xã, chúng tôi đến thăm các đơn vị bộ đội đang đóng quân trên địa bàn, những con người đang ngày đêm canh giữ cho sự bình yên của xã đảo Thanh Lân nói riêng và Tổ quốc thân yêu nói chung. Đến Đồn Biên phòng số 10, lúc này chỉ có một số cán bộ, chiến sĩ đang ở lại Đồn làm công tác trực ban và dọn dẹp vệ sinh nhà cửa để chuẩn bị đón tết. Đồng chí Nguyễn Danh Thư, Phó Đồn trưởng Đồn 10, vui vẻ: “- Vào những ngày giáp tết càng phải tăng cường công tác tuần tra bảo vệ biên giới biển, ngăn chặn việc vận chuyển hàng lậu qua biên giới, đồng thời đảm bảo an ninh trên địa bàn để nhân dân đón tết vui vẻ. Đơn vị luôn thường trực sẵn sàng chiến đấu''. Anh Thư cũng cho biết thêm rằng đơn vị đã chuẩn bị cho cán bộ, chiến sĩ đón tết đầy đủ, chu đáo cả về vật chất lẫn tinh thần, đồng thời cho chúng tôi hay kế hoạch hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao của Đoàn thanh niên đơn vị với Đoàn thanh niên xã sẽ được tổ chức trong đêm giao thừa và 3 ngày tết, như: Hái hoa dân chủ, thi đấu bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, cờ tướng... Tạm biệt cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng số 10, chúng tôi sang thăm cán bộ, chiến sĩ Bộ đội đảo Thanh Lân. Trong hội trường đơn vị, cây đào khoe những nụ hồng chúm chím đang được các chiến sĩ khéo tay tết lên những dây kim tuyến, đèn nháy và cả những phong bao lì xì; hai hàng câu đối được treo ở vị trí trang trọng. Đảo trưởng, Trung tá Nguyễn Hồng Trung, tâm sự: “Theo quy định thì 70% quân số sẽ làm nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu, còn 30% sẽ được đơn vị tạo điều kiện cho về ăn tết với gia đình. Tuy nhiên, phần lớn chiến sĩ, đặc biệt là các chiến sĩ trẻ, đều có nguyện vọng muốn được ở lại đơn vị đón tết, mong được đón giao thừa trong tình cảm đồng chí, đồng đội. Cán bộ, chiến sĩ luôn coi đơn vị là nhà, đảo là quê hương thân yêu''.

Chúng tôi tạm biệt Thanh Lân vào buổi sáng, gió xuân nhẹ thổi làm lay động những cánh đào chớm nở. Người tiễn chúng tôi là thầy giáo Đỗ Văn Quang, Phó Hiệu trưởng trường THCS xã, anh tâm sự: ''Quê mình ở thị xã Uông Bí, mình ra Thanh Lân công tác đến nay được 9 năm 4 tháng và mình đã đón 9 mùa xuân trên đảo. Mỗi dịp tết đến xuân về, đều chứng kiến sự đổi thay trong đời sống của nhân dân xã đảo. Người dân ở đây dù khó khăn nhưng luôn coi trọng việc học hành của con em mình. Họ không sợ nghèo bởi đã có bàn tay, khối óc vững vàng; họ đang cần sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước về nguồn điện, nước phục vụ sinh hoạt để những mùa xuân được no ấm, vui vẻ vẹn tròn''. Anh cũng hẹn chúng tôi một dịp nào cùng đón xuân với nhân dân và chiến sĩ nơi đây để cảm nhận sự ấm cúng đến lạ lùng bởi xuân Thanh Lân là mùa xuân của nghĩa tình quân dân thắm thiết.

Cùng chuyên mục