Chuyện thợ lò bỏ việc (đơn phương chấm dứt và xin chấm dứt HĐLĐ) ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) thời gian này thông tin đang rộ lên.
Nguy cơ thiếu thợ lò là nhỡn tiền
Song trong thực tế, những năm gần đây năm nào TKV cũng có thống kê số thợ lò bỏ việc. Ví dụ, chỉ lấy hai năm gần đây, năm 2008 số thợ lò bỏ việc là 2.700 người, năm 2009 là 2.650 người và 6 tháng đầu năm 2010 là 1.452 người. Chỉ có điều, tại sao nay rộ thông tin, là bởi có những mỏ khai thác than hầm lò từ trước tới nay làm ăn có bài bản, truyền thống, có mức sống, thu nhập ổn định, số thợ lò bỏ việc hàng năm rất ít, nay bỏ không ít nữa. Trong khi dự kiến cơ cấu sản lượng sản phẩm 15-20 năm tới đây của TKV, năm 2010, sản lượng than hầm lò phải đạt trên dưới 20-21 triệu tấn, tức chỉ thua sản lượng lộ thiên vài ba triệu tấn. Khoảng 5 năm sau, tức vào năm 2015, than hầm lò sẽ gần gấp đôi than lộ thiên. Còn từ năm 2020, sản lượng than hầm lò sẽ duy trì ở mức 52-55 triệu tấn/năm so với trên dưới 10-13 triệu tấn than lộ thiên/năm. Trong khi đó, Trường đào tạo Nghề mỏ Hồng Cẩm tuyển sinh và nhập học năm 2010 được 430 học sinh. Ngay từ năm nay, Tổng Công ty Đông Bắc cần tới hàng nghìn công nhân lò để bổ sung các đơn vị thiếu hụt và bố trí vào những điểm khai thác mới. Các công ty than Hạ Long, Hòn Gai, Dương Huy, Quang Hanh... cũng đang đứng trước nguy cơ thiếu thợ lò.
Phân tích các trường hợp thợ lò bỏ việc những năm gần đây cho thấy, họ đa phần có tuổi nghề dưới 5 năm (80%) và bậc thợ thấp - bậc 3/6; 4/6 (88,8%). Số có tuổi đời dưới 25 chiếm nhiều nhất (58,3%); tiếp đó số có tuổi từ 25 tới 35 (36,7%); từ trên 35 tuổi bỏ ít (5,1%). Trên 1/2 số công nhân bỏ lò là những người sống xa nhà, ở tập thể. Số đã có gia đình riêng, có vợ con chiếm tỷ lệ thấp hơn, khoảng trên dưới 1/4 tổng số.
Như vậy có thể nhận xét, công nhân có tuổi đời, tuổi nghề càng cao, có vợ con, có nhà riêng, có hộ khẩu thường trú tại Quảng Ninh (nơi có các mỏ than hầm lò) thường gắn bó với nghề hơn số công nhân trẻ tuổi đời, ít tuổi nghề, bậc thợ thấp, chưa có gia đình riêng, ăn ở, sinh hoạt theo hình thức ở tập thể.
Nguyên nhân thợ lò bỏ việc
Vì sao thợ trẻ, được đào tạo bài bản, có sức khỏe, có tay nghề lại hay bỏ lò cho dù sau đó họ phải vất vả bươn chải, tìm kiếm cơ hội thử vận may ở các ngành nghề, các doanh nghiệp khác?
Có thể liệt kê nhiều nguyên nhân.
Chẳng hạn, đây là một liệt kê:
Thứ nhất, người từ nơi khác đến, thay đổi môi trường chưa quen, chưa thích nghi. Mối quan hệ xã hội nơi làm việc và cư trú sinh sống không phù hợp với tập quán của quê hương họ.
Thứ hai, "giấc mơ" ra làm mỏ vượt quá hiện thực khi tiếp cận.
Thứ ba, thu nhập chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống (của chính bản thân và gia đình họ).
Thứ tư, mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất chưa phù hợp, cũng có thể vì vậy mà lực lượng sản xuất muốn phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, hình thành một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất mới ngày càng phát triển.
Một liệt kê khác:
Thứ nhất, ngành khai thác than hầm lò với đặc thù độc hại, nguy hiểm, đòi hỏi cường độ lao động cao trong khi các yếu tố như mức thu nhập, đời sống tinh thần, vị thế, khả năng thăng tiến trong xã hội chưa đủ sức lôi cuốn lớp người trẻ tuổi gắn bó suốt đời với ngành nghề.
Thứ hai, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhiều doanh nghiệp với các ngành nghề đa dạng, ít nặng nhọc, đỡ vất vả hơn, điều kiện tuyển dụng, tiếp nhận lại thông thoáng, dễ dàng nên cho dù tiền công thấp, bấp bênh nhưng lại là môi trường có sức hút gây tò mò cho lớp lao động trẻ vốn bản tính hiếu động, thích dịch chuyển, thích phiêu lưu, ưa thử sức để tự khẳng định mình.
Thứ ba, thông thường hầu hết khai trường của các mỏ than hầm lò ở vùng sâu, vùng xa, không gắn với đô thị, cụm dân cư, khả năng tham gia sinh hoạt cộng đồng hạn chế. Nhiều đơn vị cố gắng tổ chức nhà ở tập thể, nhà ăn tập thể, nơi vui chơi cho công nhân, song cũng gần khai trường, xa dân cư. Cán bộ quản lý khu tập thể thì theo kiểu sáng đi, tối về. Câu lạc bộ, thư viện có nhưng là làm cho có, thiếu các hình thức vận động nên không thu hút sự chú ý, tham gia của công nhân. Nhiều người đã không chấp nhận ở tập thể, tìm kiếm thuê mướn nhà trọ gần phố, gần dân thì đi làm lại bất tiện, sinh hoạt không tuân thủ giờ giấc, dẫn tới buông lỏng kỷ luật lao động, tùy tiện nghỉ việc. Không ít người do thiếu sự quan tâm, quản lý của người thân, gia đình, thiếu sự để mắt, góp ý kịp thời của tổ chức, đoàn thể nên bị lôi cuốn vào một số tệ nạn xã hội.
Thứ tư, khâu giáo dục tư tưởng, truyền thống, khơi dậy ý thức tập thể, giai cấp, lòng tự hào, tự tôn nghề nghiệp không đạt hiệu quả như mong muốn. Có một hiện tượng đáng suy ngẫm, trong khi lãnh đạo các cấp, lãnh đạo doanh nghiệp, Tập đoàn thường xuyên đề cập đến niềm tự hào được đứng trong hàng ngũ thợ mỏ - công nhân Than - Khoáng sản Việt Nam, thì lại chưa có một cuộc thăm dò, đánh giá thực chất, có bao nhiêu công nhân lò hiểu biết, nắm rõ lịch sử, truyền thống của đơn vị mình và bao nhiêu trong số họ cảm thấy gắn bó mật thiết với công việc, với doanh nghiệp.
Cũng không thể không nhắc tới sự hụt hẫng của không ít công nhân trẻ mới từ môi trường đào tạo tới nhận việc ở các doanh nghiệp. Trong trường, họ sống tập thể, học tập, ăn uống, vui chơi thể dục thể thao, sinh hoạt văn nghệ theo đúng thời gian biểu, luôn có thầy cô giáo, cán bộ giáo vụ, cán bộ quản sinh nhắc nhở, kèm cặp. Tốt nghiệp hôm trước, hôm sau xách ba lô về mỏ, được điều động tới các khai trường heo hút, không có bạn bè, người thân, dễ sinh buồn chán. Những trường hợp này, nếu không sớm phát hiện và đi sâu tìm hiểu, giúp đỡ của cán bộ quản lý, của anh em cùng tổ đội, phân xưởng thì thường xảy ra hiện tượng thợ mới đến cáo ốm, cáo bận, nghỉ việc hoặc đi làm nhưng trễ nải, không đạt năng suất, định mức.
Từ các cách liệt kê trên, có thể phân tích một số nguyên nhân cốt lõi:
Nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Nặng nhọc: Thợ lò làm trong lò vẫn còn rất nhiều việc phải làm thủ công: Xúc dọn than bằng cuốc, xẻng. Dịch chuyển các thiết bị chống giữ rất nặng. Mang vác các vật liệu, thiết bị bằng sắt thép cũng rất nặng trong điều kiện lò chật hẹp, dốc trơn trượt. Chặt chém gỗ, đóng chèn, chèn các tấm bê tông. Khoan, xúc lò đá cũng chẳng dễ dàng gì. Đi lại lên xuống lò dốc rất vất vả, rất mệt. Thời gian làm việc kéo dài hơn so với quy định của Nhà nước (kể cả thời gian đi, về).
Độc hại: Thiếu khí thở trong lò sâu. Bụi bặm. Do đó làm việc mau mệt. Hít thở thán khí, bụi bặm gây ra ốm đau, mắc bệnh nghề nghiệp.
Nguy hiểm: Cơ hội lúc nào cũng rình rập. Trong khi bây giờ con cái đẻ ít, mỗi gia đình chỉ 1-2 con.
Lương thấp
Cách đây hàng chục năm, khi người làm nghề giáo ra chợ chỉ có thể mua mớ cá vụn để ăn (còn gọi là cá lợn, người ta mua về nấu cho lợn), vì đồng lương rất thấp; thì, hễ thấy một anh công nhân nào ra xách con cá to, đích thị anh ta là thợ lò.
Bây giờ, lương giáo viên cũng có thể mua được con cá to, người thợ lò cũng vẫn chỉ mua được con cá to như cách đây hàng chục năm.
So sánh như vậy để thấy, lương thợ lò hiện nay cho dù đạt mức 6-7 triệu đồng một tháng, song với mặt bằng chung như hiện nay là không tương xứng, là thấp.
Lương như thế chưa đủ để trang trải cho cuộc sống người thợ, không thể có tích lũy, tiết kiệm.
Ăn không đúng định lượng
Năm 1996, đã có Quyết định số 611/TTg ngày 4-9-1996 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với công nhân, viên chức một số ngành, nghề đặc biệt trong các doanh nghiệp. Theo đó thợ lò được ăn ở mức 2 với 24kg gạo, 4kg thịt, mỡ các loại, 3kg cá, 5kg hoa quả v.v... một tháng. Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ có tiếp Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg ngày 26-9-2005 về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức một số ngành, nghề trong các công ty nhà nước. Theo đó, mức ăn của thợ lò là 37 ngàn đồng/ngày. Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ lại ra Quyết định số 72/2008/QĐ-TTg ngày 30-5-2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg ngày 26-9-2005 về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức một số ngành, nghề trong các công ty nhà nước. Theo đó, mức ăn của thợ lò tăng lên 60 ngàn đồng/ngày.
Chỉ tính từ 2005, TKV chưa lúc nào thực hiện đúng các quyết định của Chính phủ. Hiện nay chưa có mỏ hầm lò nào cho thợ lò ăn tới 60 ngàn. Có mỏ chỉ cho ăn có 28 ngàn đồng/ngày.
Hầu hết các mỏ hầm lò của TKV đã tổ chức cho thợ lò ăn tự chọn (ăn theo lối búp phê). Đó là một cố gắng. Song ăn tự chọn mà chỉ 28 ngàn thì nấu nướng thế nào? Có bao thức ăn? Vì thế, khi tổ chức ăn tự chọn, người ra sau không có gì để chọn, còn gì ăn nấy. Trong khi người trong lò ra sau thường là những người chăm chỉ, những người đã có tuổi.
Ở, nhà phải đi thuê ngoài, vợ con ở xa
Chưa có số liệu chính thức hiện nay có bao nhiêu thợ lò đi thuê nhà, song hầu hết các mỏ hầm lò đều có thợ lò ở trọ. Lý do chủ yếu là nhà tập thể không đủ, phải đi thuê trọ. Vợ con thì ở xa. Mô hình thợ lò có nhà ở, ở cùng vợ con, vợ chỉ làm nội trợ phục vụ chồng mà TKV đề ra tỏ ra là rất xa vời. Bây giờ thấy thật khó khăn khi phải sống xa vợ con chỉ để làm việc. Tiết kiệm để mua được một ngôi nhà trị giá chỉ 500 triệu đồng, tính ra cả đời làm thợ với mức thu nhập như hiện nay, phải vài chục năm mới mua được. Vài chục năm, là cả một đời thợ, do đó, hết cả một đời cũng không chắc đã tiết kiệm đủ để mua được ngôi nhà chỉ với trị giá 500 triệu...
Thay lời kết
Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thu Hồng, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đã có bài phát biểu đề cập thực trạng đời sống công nhân lao động hiện nay. Bà Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, cùng với sự phát triển kinh tế, lực lượng công nhân lao động đang ngày càng tăng về số lượng và hiện nay có hơn 10 triệu công nhân lao động đang có mặt trong mọi doanh nghiệp, trong các nhà máy, phân xưởng. Đa phần họ đều ở độ tuổi rất trẻ từ khoảng 18-40. Nhưng điều hết sức đáng trăn trở là đời sống của họ hiện nay đang quá nhiều khó khăn với mức lương rất thấp, người công nhân phải tự cân đối mọi nhu cầu chi tiêu trong đồng lương ít ỏi đó... Từ thực trạng này, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thu Hồng đã đề nghị Chính phủ có những giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn nữa, chỉ đạo các cấp chính quyền địa phương, các bộ, ngành quan tâm giải quyết 6 vấn đề bức xúc của giai cấp công nhân theo tinh thần Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đấy là vấn đề nhà ở, thu nhập, việc làm, nhà trẻ, các thiết chế văn hóa, đời sống tinh thần cho người lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc biệt là những nơi đông công nhân lao động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp, tôn vinh các doanh nghiệp làm tốt để động viên khích lệ và nhân rộng những mô hình này. Đồng thời phải có chế tài xử phạt kịp thời các doanh nghiệp vi phạm, trốn đóng, nợ bảo hiểm, vi phạm quyền lợi của người lao động.
Giải pháp thứ ba là tăng cường xây dựng các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp, các tổ chức Đảng, đoàn thanh niên, tổ chức công đoàn, đây sẽ là những hạt nhân chính trị để quy tụ và xây dựng giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh, xứng đáng với vị thế và vai trò của giai cấp trong tiến trình lịch sử và giai đoạn cách mạng hiện nay...
Đây thiết nghĩ cũng là những vấn đề mà ngành Than hiện nay cần quan tâm!"