Thời cơ của ngành du lịch

Nếu trước đây công tác chào bán tour được coi là phần việc khó khăn nhất của một hãng lữ hành, thì nay việc tìm phòng cho khách sẽ quyết định tất cả, vì hầu hết phiếu đặt phòng gửi cho các khách sạn 4, 5 sao đều nhận được con dấu waiting list (danh sách chờ).

d
Khách nước  ngoài ở Cù Lao Chàm - Ảnh: Tuổi Trẻ
Việc chạy khắp thành phố chỉ để tìm vài ba phòng cho một đoàn khách đã thành chuyện bình thường ở các hãng lữ hành.

Cầu vượt cung

Lượng khách đến khu vực Đông Nam Á đang đổ dồn về Việt Nam sẽ còn kéo dài trong nhiều năm nữa, cho đến khi các “đại gia” du lịch trong khu vực như Thái Lan, Indonesia khắc phục được vấn đề an ninh của họ.

Sự phát triển ngoài mong đợi hiện nay của ngành du lịch đã làm cho các trung tâm du lịch quá tải về cơ sở hạ tầng phục vụ khách, ví như tắc nghẽn giao thông mà nút cổ chai là... cơ sở lưu trú! Giá phòng tại các khách sạn cao cấp đã tăng lên hai, ba lần so với năm năm trước, nhưng vẫn không đủ phòng cho khách. Đây là cơ hội để chính quyền Hà Nội và TP.HCM di dời công xưởng, kho bãi ra khỏi khu trung tâm, dành chỗ cho việc xây khách sạn sang trọng có hiệu quả kinh tế và mỹ quan cao hơn.

Đây cũng là dịp tốt để các địa phương khác đón lượng khách quốc tế từ các trung tâm du lịch đổ về nhằm tránh bị kẹt phòng và để giảm giá tour. Du lịch phát triển sẽ đem khách hàng đến cho các nhà sản xuất trong nước, thay vì chúng ta phải ra nước ngoài tìm họ. Mặt khác, du lịch phát triển còn giúp nông dân xuất khẩu tại chỗ các loại thực phẩm tươi sống với giá cao.

Nhìn toàn cục thì việc có thêm vài triệu khách quốc tế sẽ đem lại nguồn lợi rất lớn cho nến kinh tế và tạo ra nhiều chỗ làm. Nhưng cầu vượt cung là một báo động đỏ vì giá phòng của Việt Nam hiện nay đã thuộc loại cao nhất khu vực, làm cho tour thiếu tính cạnh tranh. Nếu một mai các điểm đến khác trong khu vực cũng an toàn như Việt Nam, thì liệu chúng ta có thu hút được khách nữa hay không, đó chính là bài toán cần được đặt ra ngay từ bây giờ.

Cạnh tranh điểm đến

Không phải khi chúng ta vào WTO thì việc cạnh tranh thu hút du khách mới xảy ra, mà điều này đã diễn ra từ khá lâu.

Thông thường khách châu Âu đi tour từ 2-4 tuần, với điểm đến là hai hoặc ba nước cho “xứng đáng” tiền vé máy bay, vốn chiếm đến một phần ba chi phí. Vì vậy, việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch quốc gia và địa phương cần phải tính đến yếu tố “đụng hàng”.

Ví dụ bên cạnh nước ta thì Trung Quốc là nơi có nhiều di tích lịch sử, Thái Lan có các ngôi chùa Tiểu Thừa đồ sộ, Campuchia với Angkor Wat hay Ấn Độ với các đền đài bằng đá khổng lồ. Du khách đa phần không phải dân chuyên môn về lĩnh vực kiến trúc, nên họ đến điểm tham quan chỉ nhìn qua loa, nghe thuyết minh sơ bộ rồi chụp ảnh lưu niệm.

Nếu họ đã tham quan các điểm kể trên ở các nước lân cận, thì khi đến Việt Nam họ cũng giảm hứng thú coi lại các chùa chiền rất nhiều, nhất là đến tỉnh nào... cũng chỉ có món đó. Hiểu được điều này sẽ giúp các công ty du lịch tránh đưa vào chương trình tham quan những “món” trùng lắp, và tăng được tính hấp dẫn của điểm đến.

Hiện tại nước ta đã đạt được thành công nho nhỏ trong cuộc cạnh tranh này, vì lượng khách tăng đều và ngày lưu lại của họ cũng dài hơn trước. Nhưng nếu lấy con số 3,6 triệu khách trong năm 2006 của chúng ta (nguồn: vietnamtourism.gov.vn) so với 14 triệu du khách của Thái Lan và khoảng 17 triệu của Malaysia, thì rõ ràng chúng ta còn phải phấn đấu nhiều.

Nhiều du khách cho rằng tài nguyên du lịch lớn nhất của Việt Nam nằm ở các bãi biển và dải đất hình chữ S. Nếu yếu tố đầu tiên đáp ứng được nhu cầu tắm nắng, tắm biển và nghỉ dưỡng thì yếu tố thứ hai giúp cho việc kết hợp dễ dàng các chủ đề tham quan trong một chương trình theo nguyên tắc: rừng - biển, thành phố - đồng bằng để tạo nên sự đa dạng, hấp dẫn du khách.