Sau khi Báo Quảng Ninh số ra ngày 3-7-2007 đăng tóm tắt kết quả giải quyết khiếu nại của 10 hộ dân phường hồng hải (TP Hạ Long) về đền bù GPMB xây dựng quốc lộ 18a, Toà soạn đã nhận được nhiều ý kiến quan tâm của bạn đọc. Để đông đảo bạn đọc có thêm hiểu biết về vấn đề này, trên số báo hôm nay 6-7 và ngày mai 7-7, Báo Quảng Ninh xin đăng toàn văn thông báo số 16/TB-Ttr ngày 28-6-2007 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh.
Theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh Quảng Ninh, Thanh tra tỉnh thông báo Kết luận của Thanh tra Chính phủ; ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn của Bộ Tài chính để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và việc tổ chức thực hiện của UBND tỉnh sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại và tố cáo của bà ÔnThị Bích Loan và 10 hộ dân bị thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tại tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải, để các cấp chính quyền và nhân dân nắm được đầy đủ thông tin chính thức liên quan, như sau:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổng thanh tra đã có Quyết định thành lập đoàn Thanh tra xác minh đơn khiếu nại, tố cáo của bà ÔnThị Bích Loan và các hộ dân, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long. Ngày 28-12-2006 Thanh tra Chính phủ có báo cáo số 2784/BC-TTCP “Báo cáo kết luận Thanh tra giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của bà ÔnThị Bích Loan và các hộ dân phường Hồng Hải, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ngày 14-2-2007, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 922/VPCP-V.II và ngày 15-5-2007 có công văn số 2567/VPCP-V.II “V/v giải quyết khiếu tố của bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân Quảng Ninh” thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
A- Diễn biến sự việc và nội dung khiếu nại:
Thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 18A giai đoạn III (từ thành phố Hạ Long đến thị xã Cẩm Phả), căn cứ văn bản số 1316/CP-NN ngày 15-12-1999 của Chính phủ “Về việc thu hồi và tạm thời giao đất để thực hiện dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 18A”, ngày 27-3-2000 UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định số 823/QĐ-UB “V/v thu hồi và tạm thời giao đất cho Ban quản lý các dự án 18 để xây dựng, cải tạo, nâng cấp quốc lộ 18A khu vực TP Hạ Long”.
Trong số các hộ dân có đất bị thu hồi bởi phạm vi ảnh hưởng của dự án có đất của 10 hộ dân đang quản lý, sử dụng thuộc tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải, TP Hạ Long. Căn cứ vào giấy tờ đất đai của các hộ gia đình, Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng đã lập và phê duyệt phương án đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân. Ngày 5-4-2002, UBND tỉnh Quảng Ninh có quyết định số 1062/QĐ-UB phê duyệt phương án đền bù GPMB đối với 10 hộ dân phường Hồng Hải, TP Hạ Long như sau: Không đền bù thiệt hại về đất, chỉ đền bù chi phí đầu tư vào đất với giá 75.000 đ/m2; vật kiến trúc, cây hoa màu bồi thường 100%; chỉ áp dụng chính sách hỗ trợ cho các hộ chính chủ. Sau khi có quyết định, các hộ có đơn khiếu nại yêu cầu được đền bù đất ở. Tháng 4-2002 UBND TP Hạ Long đã giải quyết giao cho mỗi hộ chính chủ một ô đất tái định cư tại khu tái định cư đường sông 3, phường Hồng Hà, các hộ phải nộp tiền sử dụng đất (một ô đất 63m2 x 650.000 đ/m2 = 40.950.000 đ). Các hộ dân vẫn không nhất trí và tiếp tục khiếu nại. Ngày 31-12-2002, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành quyết định số 4851/QĐ-UB giải quyết khiếu nại của 10 hộ dân phường Hồng Hải với nội dung:
+ Giữ nguyên phương án đền bù đã duyệt... chỉ được đền bù thiệt hại về đất, được đền bù chi phí đầu tư vào đất theo giá 75.000 đ/m2.
+ Xét thấy: Thực tế các hộ dân đã sử dụng một phần đất được giao để sản xuất kinh doanh làm đất ở, nay hỗ trợ 30% tiền sử dụng đất theo giá đất khu dân cư liền kề với hạn mức đất ở không quá 80 m2, diện tích đất ở không được hỗ trợ, không được đền bù chi phí đầu tư vào đất.
Tháng 5-2003, UBND TP Hạ Long đã giải quyết cho những hộ có các con đã lập gia đình riêng, cùng chung sống tại khu vực GPMB, không có chỗ ở nào khác mỗi hộ được mua một ô đất tại khu cầu 1, cầu 3, phường Cao Xanh với giá một ô đất 63 m2 x 1.080.000 đ/m2 = 68.040.000đ. Riêng những hộ dân có mặt bằng sản xuất lớn bị thu hồi hết đất, UBND thành phố sẽ cho các hộ được thuê đất tại khu công nghiệp địa phương Cao Xanh - Hà Khánh, các hộ phải làm thủ tục thuê đất theo quy định của nhà nước.
UBND TP Hạ Long, UBND tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức nhiều cuộc đối thoại, có công văn giải thích, trả lời và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Không đồng ý với việc giải quyết đó, các hộ dân khiếu nại lên Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng của Trung ương với yêu cầu:
- Được đền bù thiệt hại về đất đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi.
- Được hưởng chính sách hỗ trợ, tái định cư cho những hộ có con đã lập gia đình riêng, cùng chung sống tại khu vực GPMB.
- Riêng 3 hộ dân có mặt bằng sản xuất lớn bị giải toả (ông Nguyễn Ngọc Mậu, ông Phạm Ngọc Tài, ông Nguyễn Xuân Định) đề nghị được giao đất để tiếp tục sản xuất và kinh doanh.
- Ngày 18-4-2005 UBND tỉnh có công văn 793/UB báo cáo Thủ tướng Chính phủ “Về quá trình giải quyết khiếu nại của 10 hộ dân phường Hồng Hải, TP Hạ Long và xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”. Trước tình hình các hộ dân bức xúc khiếu nại gay gắt, ngày 10-5-2006, Văn phòng Chính phủ có công văn số 2480/VPCP-VII thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ “V/v giao Thanh tra Chính phủ, xem xét, kết luận khiếu nại của 10 hộ dân phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 2480/VPCP-VII ngày 10-5-2006 của Văn phòng Chính phủ. Tổng Thanh tra có quyết định 1010/QĐ-TTCP ngày 25-6-2006 và Quyết định số 1342/QĐ-TTCP ngày 14-7-2006 v/v thành lập Đoàn Thanh tra xác minh đơn khiếu nại, tố cáo của bà Ôn Thị Bích Loan và các hộ dân phường Hồng Hải, TP Hạ Long. Ngày 28-12-2006 Thanh tra Chính phủ có báo cáo kết luận thanh tra số 2784/BC-TTCP “Giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của bà Ôn Thị Bích Loan và các hộ dân phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” gửi Thủ tướng Chính phủ.
B- Kết quả xác minh, kết luận, kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại báo cáo số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006.
Sau đây là nội dung trích nguyên văn kết quả xác minh, kết luận và kiến nghị của Thanh tra Chính phủ trong báo cáo số 2784/BC-TTCP).
I/ Về nguồn gốc đất của từng hộ:
1- Hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu vợ là bà Ôn Thị Bích Loan:
- Gia đình ông Mậu, bà Loan có hộ khẩu thường trú và ở ổn định từ năm 1988, các con của ông bà đã xây dựng gia đình riêng. Tính đến tháng 2-2001 gia đình ông Mậu có 14 nhân khẩu, được chính quyền TP Hạ Long cho tách hộ khẩu chung thành 4 hộ: Vợ chồng con gái Nguyễn Thị Bích Thanh- tách hộ năm 1996, vợ chồng con trai Nguyễn Đức Quang - tách hộ năm 1999, vợ chồng con trai Nguyễn Thanh Tú - tách hộ năm 2000.
- Kiểm tra nguồn gốc đất hộ ông Mậu thấy: Ngày 12-2-1988, UBND tỉnh Quảng Ninh có quyết định trưng dụng đất xây dựng số 1041/QĐ-UB giao cho gia đình ông Mậu (Tổ hợp tác Duyên Hải) 2.100 m2 để xây dựng cơ sở sản xuất Tananh, thời gian sử dụng 10 năm. Năm 1991, Tổ sản xuất của ông Mậu có văn bản số 56/HC đề nghị trả lại đất cho UBND thị xã Hòn Gai và xin khu đất khác để phù hợp với công việc sản xuất kinh doanh mới; đồng thời gia đình ông làm đơn xin chính quyền cấp đất làm nhà ở (có xác nhận của UBND phường Hồng Hải, phòng Quản lý đô thị). Ngày 16-6-1992, UBND thị xã Hòn Gai có công văn số 386/CV-UB trình UBND tỉnh và Sở Xây dựng Quảng Ninh, đề nghị thu hồi 2.100m2 đất đã giao cho gia đình ông Mậu để giao cho thị xã Hòn Gai cấp cho dân tự xây nhà ở, nhưng UBND tỉnh Quảng Ninh chưa giải quyết, do đó gia đình ông Mậu vẫn quản lý, sử dụng thửa đất được giao. Ngày 06-02-1995, ông Mậu có đơn xin cải tạo Nhà sản xuất Tananh thành xưởng sửa chữa ô tô (có bản vẽ kèm theo), được UBND TP Hạ Long chấp thuận ngày 11-02-1995 và đã cấp giấy phép cải tạo và sửa chữa nhà cho gia đình ông Mậu. Đến tháng 6-1995 bà Nguyễn Thị Bích Thanh (con gái ông Mậu) thay mặt gia đình đứng đơn xin thành lập tổ hợp sản xuất. Ngày 24-6-1995, UBND TP Hạ Long có quyết định số 1053/QĐ-UB thành lập Tổ hợp Hương Long do bà Nguyễn Thị Bích Thanh làm tổ trưởng, bà Ôn Thị Bích Loan (vợ ông Mậu, mẹ bà Thanh) làm kế toán, được Sở Giao thông - Vận tải cấp ‘’Giấy phép hành nghề sản xuất sản phẩm công nghiệp giao thông-vận tải” ngày 30-9-1999.
Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê: hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu đứng tên thửa số 113, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.074,1 m2 đất thổ cư. Tháng 7-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB hộ ông Mậu sử dụng 2.257,2m2 đất (thửa số 209 tờ bản đồ GPMB số 4), ranh giới thửa đất không có tranh chấp, nhưng không xác định diện tích đất ở là bao nhiêu (biên bản ngày 6-7-2000); có 617,73m2 nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (phần diện tích đất này nằm trong mặt bằng được giao theo quyết định 1041/QĐ-UB của UBND tỉnh); biên bản ngày 24-5-2001; có 4 ngôi nhà cấp 4 nhà số 4 làm xưởng sửa chữa ô tô. Như vậy, từ năm 1988 - 2000 hộ ông Mậu đã lấn biển thêm diện tích 157,2m2.
- Quá trình sử dụng đất, gia đình ông Mậu chưa thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, theo ông Mậu trình bày: Từ năm 1988 địa phương không thông báo, yêu cầu và không thấy cán bộ thuế đến thu nên ông chưa nộp thuế sử dụng đất.
2- Ông Phạm Ngọc Tài (vợ là bà Phạm Thị Ngọc) và hộ bà Trần Thị Hợi:
- Ngày 10-9-1991 hộ ông Phạm Ngọc Tài nhận chuyển nhượng 1.142 m2 đất của ông Phan Ri – HTX Nguyễn Huệ (ông Phan Ri có quyết định trưng dụng đất xây dựng số 973/QĐ-UB ngày 3-7-1987) để làm nơi sửa chữa ô tô, xe máy. Ông Tài đã trả 10.000.000đ tiền đổ đất, lấp biển cho HTX Nguyễn Huệ (phiếu thu số 10 ngày 10-9-1991); ngày 15-9-1991 ông Tài nộp lệ phí trước bạ 5% trị giá tài sản là 500.000đ cho Phòng thuế CTN Hòn Gai (biên lai số 006017) và nộp 2.000.000đ tiền đổ đất cho Đội lao động xây dựng phường Hồng Hải (phiếu thu ngày 17-9-1991). Sau đó ông Tài tôn tạo mặt bằng, xây dựng nhà ở và xưởng sửa chữa ô tô, xe máy. Trong diện tích ông Tài nhận chuyển nhượng từ HTX Nguyễn Huệ có hộ ông Trần Văn Quý vẫn sử dụng 200m2 không giao cho ông Tài do không thoả thuận được đền bù.
- Tại bản đồ địa chính phường Hồng Hải năm 1997 và sổ mục kê thể hiện ông Phạm Ngọc Tài đứng tên thửa số 111 , tờ bản đồ số 24, diện tích 1.103,9m2 đất thổ cư. Tháng 7-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB, ông Tài sử dụng 1.087,1 m2 đất (thửa số 212, tờ bản đồ GPMB số 4). Ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 6-7-2000), nhưng không xác định diện tích đất ở là bao nhiêu; có 238,65m2 nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (phần diện tích đất này nằm trong mặt bằng được giao theo quyết định số 973/QĐ-UB ngày 3-7-1987 của UBND tỉnh); biên bản ngày 13-8-2001; có 7 ngôi nhà cấp 4 sử dụng làm nhà ở và xưởng sửa chữa ô tô. Tại thời điểm GPMB có 10 nhân khẩu đang thường trú, 2 sổ hộ khẩu: Hộ ông Phạm Ngọc Tài có 7 khẩu, hộ bà Trần Thị Hợi có 3 khẩu, (biên bản ngày 18-2-2001).
- Từ năm 1995 - 1998 ông Tài nộp tiền thuê đất sản xuất cho Chi cục thuế TP Hạ Long diện tích 1.142m2.
* Hộ bà Trần Thị Hợi:
- Tháng 10-1990 bà Hợi nhận chuyển nhượng 120m2 của ông Trần Văn Quý, diện tích đất này nằm trong mặt bằng sản xuất của HTX Nguyễn Huệ. Sau khi ông Tài mua lại toàn bộ khu đất của HTX Nguyễn Huệ, bà Lợi đã góp vốn, đất với ông Tài làm dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy và làm kế toán cho tổ sản xuất Quang Vinh do ông Tài làm tổ trưởng. Năm 1994 bà Hợi được chính quyền địa phương cho nhập hộ khẩu thường trú với 03 nhân khẩu (biên bản ngày 18-2-2001).
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê: đất ở của hộ bà Hợi nằm trong diện tích 1.103,9m2 tại thửa 11, tờ bản đồ số 24 đứng tên ông Tài.
Năm 2002 dự án nâng cấp, cải tạo quốc lộ 18A chiếm dụng toàn bộ diện tích đất của ông Tài (có 03 hộ đang sinh sống: hộ ông Tài, hộ bà Sâm - là con dâu ông Quý và hộ bà Hợi), Ban đền bù GPMB TP Hạ Long chỉ lập phương án đền bù cho hộ ông Tài và hộ bà Sâm, không lập phương án đền bù riêng cho hộ bà Hợi với lý do theo xác nhận của ông Đoàn Trung Chính – Trưởng ban đền bù TP Hạ Long thì bà Hợi là vợ ông Tài nên phương án đền bù của ông Tài đã có phần đất của bà Hợi. Sau khi bị thu hồi hết đất, 03 mẹ con bà Hợi không có chỗ ở, UBND phường Hồng Hải đã cho bà Hợi thuê 01 gian nhà 18m2 ở chợ Cột 5 với giá 100.000đ/tháng.
3- Ông Nguyễn Xuân Định (vợ là bà Vũ Thị Hồng):
- Trước năm 1989, ông Nguyễn Xuân Định có nhà, đất ở chợ Cột 3, do xây dựng Chợ nên gia đình ông phải di chuyển. Chính quyền địa phương đã giải quyết cho gia đình ông chuyển về khu đất bãi biển thuộc tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải.
Theo ông Định trình bày: Khi thu hồi đất để làm chợ Cột 3, chính quyền địa phương đã lập phương án đền bù cho gia đình ông số tiền là 2.394.749đ nhưng không trả bằng tiền mà bồi thường bằng đất với diện tích 130m2 tại phường Hồng Hải để xây dựng nhà theo giấy phép cấp đất số 444 ngày 10-4-1989 của UBND thị xã Hòn Gai. Ông Định nộp thêm cho UBND phường 380.000đ và được phường giao cho 240m2 đất (biên bản giao đất ngày 13-6-1989); (phiếu thu số 38 ngày 17-5-1990 nộp tiền đổ đất 200.000đ; phiếu thu số 2/7/04/7/1990 nộp tiền mua đất làm nhà 180.000đ).
Do công việc kinh doanh không thuận lợi, được phép của chính quyền địa phương, tháng 3-1991 ông Định đã chuyển nhượng cho ông Đinh Trọng Liên 04 gian nhà ngói, diện tích đất 86,1m2 với giá 9.500.000đ và tháng 8-1991 ông Định chuyển nhượng cho ông Hà Đồng Thư 01 nhà cấp 4, 01 bể nước, một bếp và một phần đất phân xưởng với diện tích 132m2, giá 14.000.000đ. Diện tích còn lại của ông Định là 21,9m2.
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải năm 1997 và sổ mục kê: ông Nguyễn Xuân Định đứng tên thửa số 196, tờ bản đồ số 23, diện tích 184,1 m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB, ông Định sử dụng 251,1 m2 đất (thửa số 219, tờ bản đồ GPMB số 4); ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000), có 88,55m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (biên bản ngày 24-5-2001) diện tích đất ở 229m2, diện tích đất vườn 21,8m2; có 04 ngôi nhà cấp 4, nhà số 01 ở và bán hàng, nhà số 05 làm xưởng gỗ. Tại thời điểm GPMB có 06 nhân khẩu đang thường trú, có 01 hộ khẩu (biên bản ngày 29-01-2002). Như vậy, từ năm 1991 -2000 ông Định đã lấn thêm diện tích 229,2m2.
- Từ năm 1995-2000 ông Định đã nộp thuế nhà đất diện tích 130m2.
4- Hộ ông Hà Đồng Thư (vợ là bà Lê Thị Hồng):
- Tháng 4-1989 UBND thị xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long) có giấy phép cấp đất số 442 ngày 10-4-1989 cấp cho ông Thư 258m2 đất, để xây dựng nhà cấp 4 (biên bản ngày 09-11-1989). Thực tế gia đình ông Thư đã nhận 477m2 đất và nộp tổng số tiền 6.050.000 đ cho UBND phường Hồng Hải và Đội xây dựng phường Hồng Hải (có phiếu thu tiền).
- Để mở rộng nhà xưởng, ngày 30-8-1991, ông Thư đã nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân Định một nhà cấp 4, 01 bể nước, một bếp lợp ngói và một phần nhà xưởng, diện tích 132m2 đất với số tiền là 14.000.000đ. Được sự đồng ý của chính quyền, ngày 11-11-1991. ông Thư đã nộp lệ phí trước bạ 5% trị giá tài sản với số tiền là 700.000đ cho phòng thuế C.T.N Hòn Gai (biên lai số 000509).
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê: ông Hà Đồng Thư đứng tên 03 thửa đất (thửa số 197, 198, 200 tờ bản đồ số 24, tổng diện tích 849m2 đất thổ cư. Tháng 7-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB, hộ ông Thư sử dụng 849m2 đất (thửa số 217, tờ bản đồ GPMB số 04) ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 06-7-2000); có 306,6m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (biên bản ngày 24-5-2001); có 09 ngôi ngà cấp 4 sử dụng làm nhà ở và xưởng sửa chữa ô tô, có 04 nhân khẩu đang thường trú, 01 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 29-01-2002). Như vậy trong quá trình sử dụng đất từ năm 1991 đến tháng 7-2000 ông Thư đã lấn thêm 240m2 đất. Việc san lấp thêm đất không bị chính quyền địa phương lập biên bản.
- Từ năm 1995-2000 ông Thư nộp thuế nhà đất diện tích 65m2; từ năm 1996-1998, ông Thư nộp tiền thuê đất sản xuất cho Chi cục thuế TP Hạ Long diện tích 477m2.
5- Hộ ông Đinh Trọng Liên (vợ Nguyễn Thị Út):
- Tháng 3-1994, ông Đinh Trọng Liên nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân Định 04 gian nhà ngói, tường gạch diện tích 86,1 m2 đất với giá 9.500.000đ. Diện tích đất này nằm trong diện tích 130m2 đất mà ông Định được UBND thị xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long) giao theo giấy phép cấp đất số 444, ngày 10-4-1989. Việc chuyển nhượng giữa 02 hộ thực hiện bằng giấy viết tay ngày 15-3-1991 không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê: ông Đinh Trọng Liên đứng tên thửa số 195, tờ bản đồ số 23, diện tích 88,9m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB hộ ông Đinh Trọng Liên sử dụng 115,5m2 đất (thửa số 133, tờ bản đồ GPMB số 03) ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000); có 54,48m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (biên bản ngày 24-5-2001), có 01 ngôi nhà cấp 4, có 08 nhân khẩu thường trú, 01 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 9-7-2001). Như vậy, từ năm 1991-2000 ông Liên lấn biển 29,4m2.
- Từ năm 1995-2000 ông Liên đã nộp thuế nhà đất diện tích 105m2.
6- Hộ bà Đoàn Thị Quang (chồng Cù Hoàng Phi):
- Ngày 31-3-1989, UBND phường Hồng Hải có biên bản giao cho ông Phi 225m2 đất bãi biển thuộc tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải. Ông Phi đã nộp 2.500.000đ tiền đất cho UBND phường Hồng Hải (biên nhận ngày 22-4-1989 là 590.000 đ và phiếu thu số 3/7 ngày 11-7-1990 là 1.910.000đ).
Sau khi đã nộp tiền đất, UBND phường Hồng Hải giao cho ông Phi giấy phép cấp đất số 441 ngày 10-4-1989 của UBND thị xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long) cấp cho ông Phi 198m2 đất để xây dựng nhà cấp 4, ông Phi đã đổ đất, tôn tạo mặt bằng để làm nhà ở. Do khó khăn ngày 28-4-1991 ông Cù Hoàng Phi đã chuyển nhượng cho ông Bế Văn Ba 89,9m2 đất với số tiền là 3.500.000đ. Việc chuyển nhượng giữa 02 hộ thực hiện bằng giấy mua bán viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Diện tích còn lại là 108,1m2 (năm 1992 ông Cù Hoàng Phi mất, bà Quang vợ ông Phi ở và mở quán bán nước).
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê: bà Đoàn Thị Quang đứng tên thửa số 108 tờ bản đồ số 24, diện tích 208,3m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB hộ bà Quang sử dụng 220,2m2 đất (thửa số 216 tờ bản đồ GPMB số 04) ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000); có 77,83m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (biên bản ngày 24-5-2001); có 04 ngôi nhà cấp 4, sử dụng làm nhà ở và dịch vụ uốn tóc, có 08 nhân khẩu thường trú, 03 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 18-2-2001). Như vậy, từ năm 1991 -2000 bà Quang lấn thêm 112,1 m2.
- Từ năm 1994-2000 bà Quang đã nộp thuế nhà đất diện tích 92m2.
7- Hộ bà Đoàn Thị Chanh (vợ ông Bế Văn Ba):
- Tháng 4-1991 ông Bế Văn Ba (chồng bà Đoàn Thị Chanh) nhận chuyển quyền sử dụng 89,9m2 đất của ông Cù Hoàng Phi ngày 28-4-1991 với giá 3.500.000đ, phần đất này nằm trong diện tích 198m2 đất mà ông Cù Hoàng Phi được UBND thị xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long, giao theo giấy phép cấp đất số 441 ngày 10-4-1989. Việc mua bán giữa 02 hộ thực hiện bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê; bà Đoàn Thị Chanh đứng tên thửa đất số 110, tờ bản đồ số 24, diện tích 71,3m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB hộ bà Chanh sử dụng 96,3m2 đất (thửa số 215, tờ bản đồ GPMB số 04). Ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000). Có 02 ngôi nhà cấp 4. Có 06 nhân khẩu đang thường trú, 01 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 18-02-2001). Như vậy, từ năm 1991 -2000 bà Chanh lấn thêm 6,4m2.
- Từ năm 1995-2000 bà Chánh đã nộp thuế nhà đất diện tích 81 m2.
8- Hộ ông Phạm Văn Sang:
- Năm 1982 ông Phạm Văn Sang là công nhân công tác tại Công ty Thi công và cấp nước Quảng Ninh được nghỉ mất sức. Ông xuống bãi biển Cột 3 ngăn dòng chảy, tạo mặt bằng khai thác cát nung vôi, đóng gạch. Ông đã lấn biển tôn tạo được 1000m2 đất trên đó có 80m2 nhà cấp 4; 20m2 nhà phụ, ông Sang đã ăn ở và sản xuất tại đây.
- Năm 1989 nhà đất của ông Sang bị giải toả do xây dựng chợ Cột 3, chính quyền địa phương đã giao cho ông 200m2 đất tại tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải và đền bù cho ông 02 triệu đồng. Ông Sang đã đổ đất tôn tạo mặt bằng để xây nhà ở.
- Theo Bản đồ địa chính 1997 đã đăng ký hiện trạng đất hộ ông Sang sử dụng vào sổ mục kê: ông Phạm Văn Sang đứng tên thửa đất số 109 tờ bản đồ số 24, diện tích 639,9m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB hộ ông Sang sử dụng 698,7m2 đất (thửa số 214 tờ bản đồ GPMB số 4) ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000); có 171,58 m2 đất nằm trong hành lang bảo vệ lưới điện (biên bản 24-5-2001), có 12 ngôi nhà cấp 4, ông Sang sử dụng để ở và kinh doanh nhà trọ. Tại thời điểm GPMB có 03 nhân khẩu thường trú, 01 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 28-3-2001). Như vậy, từ năm 1989-2000 ông Sang lấn thêm diện tích 498,7m2.
- Từ năm 1995-2000 ông Sang đã nộp thuế nhà đất diện tích 400m2.
9- Hộ bà Nguyễn Thị Ngọc:
- Ông Hà Đình Dũng (con trai bà Ngọc) nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Toan ngày 26-5-1992 (bà Toan có giấy phép cấp đất số 466, ngày 05-3-1990 của UBND thị xã Hòn Gai) một căn nhà cấp 4, diện tích 40m2 với giá 10.000.000đ (có xác nhận của UBND phường Hồng Hải); ông Dũng làm giấy uỷ quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Ngọc được toàn quyền sử dụng thửa đất trên. Ngày 26-9-1992 ông Dũng đã nộp lệ phí trước bạ 5% giá trị tài sản là 500.000đ cho Chi Cục thuế Hòn Gai (biên lai số 007425).
- Theo bản đồ địa chính phường Hồng Hải đo vẽ năm 1997 và sổ mục kê; bà Nguyễn Thị Ngọc đứng tên thửa số 193 tờ bản đồ số 23, diện tích 106m2 đất thổ cư. Tháng 6-2000 khi thu hồi đất, theo trích thửa GPMB bà Ngọc sử dụng 139,1 m2 đất (thửa số 134, tờ bản đồ GPMB số 03) ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 12-6-2000); có 99m2 nằm trong hành lang bảo vệ đường điện (biên bản ngày 24-5-2001); có 04 ngôi nhà cấp 4 có 01 nhân khẩu thường trú, 01 sổ hộ khẩu (biên bản ngày 09-7-2001). Như vậy, từ năm 1992-2000, bà Ngọc lấn thêm diện tích 99,1 m2.
- Từ năm 1995-2000 bà Ngọc đã nộp thuế nhà đất diện tích 40m2.
10- Hộ ông Trần Văn Hoá (vợ là Nguyễn Thị Sâm):
- Năm 1965, ông Trần Văn Quý xuống bãi triều ven biển thuộc tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải, khai phá, tôn tạo một khu đất diện tích khoảng 200m2, lúc đầu ông Quý sử dụng trồng rau và chăn nuôi, sau đó ông Quý làm 02 gian nhà tạm để ở.
- Ngày 03-7-1987 UBND tỉnh Quảng Ninh có quyết định trưng dụng đất xây dựng số 973/QĐ-UB giao cho ông Phan Ri - tổ hợp tác Nguyễn Huệ 1142m2 đất làm cơ sở sản xuất chiếu cói xuất khẩu, trong mặt bằng HTX Nguyễn Huệ có 200m2 đất của ông Trần Văn Quý. Do HTX Nguyễn Huệ chưa đền bù vật kiến trúc, cây trồng cho ông Quý và UBND tỉnh Quảng Ninh cũng không có quyết định thu hồi đất của ông Quý nên gia đình ông Quý vẫn quản lý, sử dụng thửa đất này.
- Ngày 18-10-1990, ông Quý chuyển nhượng cho bà Trần Thị Hợi 120m2 đất trên đất có một ngôi nhà cấp 4 diện tích 40m2 và một số hoa màu với giá 5.000.000 đ. Diện tích nhà đất còn lại 80m2 ông Quý giao cho vợ chồng con trai là Trần Văn Hoá (vợ là Nguyễn Thị Sâm) quản lý, sử dụng.
- Năm 1996 ông Trần Văn Hoá (vợ là bà Nguyễn Thị Sâm) cải tạo, sửa chữa lại nhà để ở, do chưa có giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên bị lập biên bản. Ngày 23-10-2006 UBND phường Hồng Hải có thông báo số 56/TB-UB yêu cầu gia đình ông Hoá phải tự tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
- Gia đình ông Hoá, bà Sâm không có tên trong hồ sơ địa chính của chính quyền địa phương (vì diện tích đất của gia đình ông Hoá, bà Sâm nằm trong diện tích đất đo vẽ bản đồ địa chính năm 1997 của hộ ông Phạm Ngọc Tài). Theo trích thửa GPMB bà Nguyễn Thị Sâm là vợ ông Trần Văn Hoá (con dâu của ông Trần Văn Quý) đứng tên thửa số 212, tờ bản đồ GPMB số 04, diện tích 93,5m2 đất. Ranh giới thửa đất không có tranh chấp (biên bản ngày 06-7-2000); tại bản chứng nhận nhà đất đối tượng đền bù di chuyển GPMB ngày 09-7-2001 bà Sâm có 01 ngôi nhà cấp 4, sử dụng để ở, có 03 nhân khẩu thường trú, 01 sổ hộ khẩu.
II. Kết luận:
Qua kết quả xác minh, khiếu nại của 10 hộ dân thuộc tổ 4, khu 12, phường Hồng Hải, TP Hạ Long bị thu hồi đất do Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 18A cho thấy:
1- Đất đai của các hộ dân phường Hồng Hải đang khiếu nại có nguồn gốc khác nhau, trong đó: 4 hộ (ông Nguyễn Ngọc Mậu, ông Hà Đồng Thư, ông Nguyễn Xuân Định, bà Đoàn Thị Quang) có quyết định giao đất để sản xuất, có giấy phép cấp đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; 4 hộ (ông Phạm Ngọc Tài, ông Đinh Trọng Liên, bà Nguyễn Thị Ngọc, bà Đoàn Thị Chanh) là những hộ nhận chuyển nhượng của những hộ có quyết định giao đất, giấy phép cấp đất của cơ quan Nhà nước. Việc chuyển nhượng này cũng được chính quyền địa phương thừa nhận, cho phép tồn tại sử dụng từ lúc chuyển nhượng đến khi bị giải toả; có 1 hộ Nhà nước thu hồi đất do làm chợ Cột 3, được chuyển đến hợp pháp ở phường Hồng Hải (ông Phạm Văn Sang) và 1 hộ không thuộc đối tượng như các hộ trên nhưng đã khai phá đất bãi biển, sinh cơ lập nghiệp từ năm 1965 đến khi bị giải toả năm 2002 (bà Nguyễn Thị Sâm).
2- Các hộ đều có hộ khẩu thường trú trước ngày 15-10-1993; quá trình sử dụng đất không tranh chấp. Mặt khác năm 1997, đất của các hộ đã được chính quyền địa phương đo vẽ, thể hiện trên bản đồ địa chính, quản lý theo sổ mục kê (có số thửa trên bản đồ, tên chủ sử dụng, tình trạng đất đai, mục đích sử dụng); các hộ đã thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất với Nhà nước (trừ trường hợp hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu như phân tích ở phần trên). Tuy nhiên, trong sổ mục kê ghi toàn bộ đất của các hộ là đất thổ cư là không chính xác, không phản ánh đúng nguồn gốc và thực trạng sử dụng đất.
3- Công tác quản lý đất đai của địa phương trong nhiều năm bị buông lỏng, các hộ dân cũng chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về đất đai. Quá trình sử dụng đất, một số hộ đã tự lấn chiếm biển mà chính quyền địa phương không tiến hành lập biên bản cũng như xử lý vi phạm các công trình, nhà ở tại nơi sản xuất. Sự buông lỏng quản lý về đất đai là nguyên nhân dẫn đến khi giải quyết công tác đền bù giải toả gặp không ít khó khăn. Do công tác quản lý đất đai của địa phương chưa tốt, việc xác định loại đất để quản lý không rõ ràng, thiếu thống nhất cho nên dẫn đến khiếu kiện. Một bên chính quyền địa phương xác định đất này là đất công, đất chỉ tạm giao cho dân sử dụng để sản xuất kinh doanh (đất chuyên dùng); một bên là các hộ dân thì cho rằng: Đất đang sử dụng là đất thổ cư đã được đo vẽ giải thửa, đăng ký vào sổ sách quản lý của cơ quan nhà đất chuyên ngành tại địa phương. Song dù là đất chuyên dùng hay đất thổ cư thì đất đai của các hộ dân đã quản lý, sử dụng trước khi giải phóng mặt bằng, phần lớn là có nguồn gốc hợp lệ. Việc khiếu nại của các hộ dân là có cơ sở để xem xét, vận dụng đền bù, hỗ trợ khi bị thu hồi đất.
4- Việc Hội đồng thẩm định tỉnh Quảng Ninh xác định: Khu đất giao cho các hộ dân phường Hồng Hải sử dụng đã có quy hoạch từ năm 1987, là khu vực đất giao để sản xuất kinh doanh, chỉ tạm giao cho dân, khi giao đất tất cả các hộ không phải nộp tiền sử dụng đất nên khi Nhà nước thu hồi đất, các hộ chỉ được đền bù, chi phí đầu tư vào đất. Với cách lập luận này là chưa có cơ sở pháp lý, vì vào thời điểm giao đất cho các hộ dân phường Hồng Hải năm 1987 - 1990 thị xã Hồng Gai (nay là TP Hạ Long) chưa có quy hoạch chi tiết sử dụng đất. Do chưa có quy hoạch sử dụng đất, nên những hộ dân được giao đất tại khu vực này chỉ được phép xây dựng công trình tạm (nhà cấp 4); đến năm 1999 TP Hạ Long mới có quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai giai đoạn 1999-2010 đã được Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt ngày 27-7-2000. Mặt khác, trong các văn bản của UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND thị xã Hồng Gai (nay là TP Hạ Long) giao đất cho các hộ không có điều khoản nào ghi là đất tạm cấp, tạm giao, và chỉ được sử dụng đất cho sản xuất kinh doanh.
5- Khi được giao đất từ năm 1989-1991, các hộ dân đã có nộp một khoản tiền cho chính quyền phường (có phiếu thu tiền).
6- Việc thực hiện chính sách đền bù, tái định cư cho các hộ khi thu hồi đất UBND tỉnh phê duyệt không đền bù thiệt hại về đất chỉ đền bù chi phí đầu tư vào đất với giá 75.000 đ/m2 là chưa vận dụng đầy đủ các điều khoản đã quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, Quyết định số 1681/QĐ-UB ngày 21-7-1999 của UBND tỉnh Quảng Ninh và thực tế sử dụng đất của các hộ; khi giải quyết chính sách đền bù chưa xem xét kỹ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các hộ để có phương án đền bù phù hợp.
Từ những căn cứ trên, đối chiếu với Điều 6 và Khoản 2, Điều 13, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24-7-1998 của Chính phủ và Khoản 1, Điều 8, Khoản 3, Điều 7 Quyết định số 1681/QĐ-UB ngày 21-7-1999 của UBND tỉnh Quảng Ninh thì đất đai của 10 hộ dân thuộc diện được xem xét, vận dụng đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi.
7- UBND tỉnh Quảng Ninh giải quyết khiếu nại của các hộ dân chưa đúng với quy định của Luật Khiếu nại, Tố cáo thể hiện như: Không giao cho cơ quan Thanh tra Nhà nước của tỉnh xem xét kết luận, tham mưu cho UBND tỉnh giải quyết mà lại giao cho Ban Đền bù giải phóng mặt bằng Quốc lộ 18A (là cơ quan tham mưu sai trong việc đề xuất phương án đền bù) xem xét, đề xuất cách giải quyết; không ban hành quyết định giải quyết riêng cho từng hộ mà lại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho cả 10 hộ.
Mặt khác khi các hộ dân khiếu nại lên Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng ở Trung ương, UBND tỉnh không tổ chức phúc tra, kết luận rõ ràng khiếu nại của các hộ dân mà lại gửi báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ khẳng định: Quyết định số 4851/QĐ-UB ngày 31-12-2002 của UBND tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng, đúng chính sách pháp luật, từ nay không xem xét giải quyết nữa, đã rơi vào tình trạng chủ quan, là nguyên nhân các hộ dân khiếu nại tập thể gay gắt, vượt cấp. Tuy nhiên, ngày 10-5-2006 UBND tỉnh Quảng Ninh đã có Văn bản số 1495/UBND giao Thanh tra tỉnh Quảng Ninh thành lập Đoàn Thanh tra giải quyết khiếu nại của công dân, song do Thanh tra Chính phủ có quyết định thành lập Đoàn Thanh tra về Quảng Ninh giải quyết nên đã dừng lại việc này.
UBND TP Hạ Long; UBND tỉnh Quảng Ninh xem đây là một bài học sâu sắc cần được rút ra trong quá trình chỉ đạo.
III. Kiến nghị:
Từ những kết luận nêu trên, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh thực hiện các nội dung sau:
1- Căn cứ kết luận của Thanh tra Chính phủ để ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với từng hộ theo đúng trình tự, quy định của Luật Khiếu nại, Tố cáo.
2- Lập phương án bổ sung đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân (trên) bị thu hồi đất GPMB thực hiện dự án nâng cấp Quốc lộ 18A theo hướng sau đây:
2.1- Đền bù đất ở cho mỗi hộ chính chủ theo hạn mức 80m2 như quy định của địa phương, riêng hộ bà Nguyễn Thị Ngọc đền bù 40m2 đất ở.
2.2- Diện tích đất còn lại giải quyết theo các nhóm:
Nhóm 1: Gồm 3 hộ: Hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu, ông Hà Đồng Thư, ông Phạm Ngọc Tài:
- áp dụng khoản 2, Điều 13, Nghị định 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ đền bù thiệt hại về đất chuyên dùng, trong đó: diện tích ngoài quyết định được giao và diện tích phát sinh sau ngày 15-10-1993 chỉ hỗ trợ công tôn tạo.
- Riêng hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu truy thu thuế sử dụng đất và tiền thuê đất do chưa nộp cho Nhà nước.
- Giải quyết cho 2 hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu; ông Phạm Ngọc Tài được thuê đất để sản xuất, kinh doanh theo quy hoạch của địa phương và các quy định của pháp luật.
Nhóm 2: Gồm 5 hộ: Hộ ông Nguyễn Xuân Định, bà Đoàn Thị Quang, Nguyễn Thị Ngọc, ông Phạm Văn Sang, Nguyễn Thị Sâm:
Đền bù thiệt hại về đất đối với diện tích đất còn lại theo loại đất vườn liền kề, trong đó diện tích đất phát sinh sau ngày 15-10-1993 chỉ hỗ trợ công tôn tạo.
Nhóm 3: Gồm 2 hộ: Hộ ông Đinh Trọng Liên, Đoàn Thị Chanh:
Ngoài 1 hạn mức đất ở được đền bù như đã nêu phần 2.1 đối với diện tích phát sinh sau ngày 15-10-1993 chỉ hỗ trợ công tôn tạo; 2 hộ này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (do khi chuyển nhượng chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế).
2.3- Giải quyết cho bà Trần Thị Hợi 1 lô đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất và giao cho ông Hà Đồng Thoan 1 lô đất diện chính sách xã hội theo quy định hiện hành.
3- Giữ nguyên việc giao đất tái định cư và giao đất tự xây cho các hộ như UBND tỉnh Quảng Ninh đã giải quyết. Khi lập phương án đền bù, hỗ trợ bổ sung phải khấu trừ khoản tiền đền bù chi phí đầu tư vào đất và tiền hỗ trợ 30% các hộ đã nhận theo phương án đền bù GPMB mà UBND tỉnh đã giải quyết cho các hộ.
4- Việc tính tiền đền bù cho các hộ dân, áp giá tại thời điểm phê duyệt phương án đền bù GPMB (tháng 4-2002), có tính thêm lãi suất ngân hàng cho thời gian từ năm 2002 đến nay.
5- Kiểm điểm trách nhiệm đối với cá nhân, tập thể có liên quan trong việc quản lý đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo của các hộ phường Hồng Hải, TP Hạ Long, gây cho người dân bức xúc, khiếu kiện gay gắt, vượt cấp.
C- Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính trong việc thực hiện kiến nghị của Thanh tra Chính phủ.
Sau khi xem xét kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, ngày 14-2-2007 Văn phòng Chính phủ có công văn số 922/VPCP-V.II thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “V/v giải quyết khiếu tố của bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân Quảng Ninh”.
“1. Đồng ý với kết quả kiểm tra, xác minh của Thanh tra Chính phủ về những nội dung khiếu nại, tố cáo của bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân tỉnh Quảng Ninh.
2. Giao Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh chịu trách nhiệm xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân có sai phạm; nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì phải khởi tố điều tra theo đúng quy định của pháp luật; thu hồi đất giao sai đối tượng và giải quyết bồi thường thiệt hại, tái định cư cho bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân theo kiến nghị của Thanh tra Chính phủ (riêng về giá bồi thường thiệt hại về đất và mức thu tiền sử dụng đất đối với đất giao sai đối tượng nhưng đã xây nhà thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài Chính).
3. Giao Bộ Tài chính trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh, kiến nghị của Thanh tra Chính phủ, hướng dẫn UBND tỉnh Quảng Ninh thu tiền sử dụng đất đối với những lô đất giao sai đối tượng (nhưng đã xây nhà) theo đúng quy định của pháp luật và bồi thường thiệt hại cho bà Ôn Bích Loan cùng các công dân theo quy định tại điều 9, Nghị định số 197/2004/ NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ.
4. Giao Thanh tra Chính phủ tiếp tục kiểm tra, xác minh, làm rõ nội dung tố cáo của bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân về việc vẫn còn khoảng 200 lô đất tái định cư giao sai đối tượng (nếu có) nhưng chưa được làm rõ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30-4-2007.
Ngày 15-5-2007 Văn phòng Chính phủ có công văn số 2567/VPCP-V.II “V/v giải quyết khiếu tố của bà Ôn Thị Bích Loan và một số công dân tỉnh Quảng Ninh” gửi: Bộ Tài chính; Thanh tra Chính phủ; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ:
“Giao bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn UBND tỉnh Quảng Ninh giải quyết bồi thường thiệt hại cho bà Ôn Thị Bích Loan và các hộ dân theo đúng quy định của pháp luật. ý kiến chỉ đạo này thay thế nội dung chỉ đạo về bồi thường thiệt hại nêu ở điểm 3, công văn số 922/VPCP-V.II ngày 14-2-2007 của Văn phòng Chính phủ; các nội dung chỉ đạo khác tại công văn trên giữ nguyên.
Ngày 21-6-2007 Bộ Tài chính có văn bản số 8184/BTC-QLCS “V/v hướng dẫn thu tiền sử dụng đất đối với những lô đất giao sai đối tượng (nhưng đã xây nhà) và bồi thường thiệt hại cho bà Ôn Thị Bích Loan và các hộ dân tỉnh Quảng Ninh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”. Nội dung hướng dẫn như sau:
“1. Về thu tiền sử dụng đất đối với những lô đất đã giao sai đối tượng (nhưng đã xây nhà) theo kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại điểm 2.1 mục III báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ được thực hiện như sau:
Đối với hộ đã nộp đủ tiền sử dụng đất theo giá đất tái định cư tại thời điểm giao đất nhưng giá đất đã tính thu tiền đất (theo giá đất tái định cư) chưa phù hợp với giá đất khi được Nhà nước giao đất theo quy định tại Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 22-8-2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì thực hiện thu phần chênh lệch tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điều 4, Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 22-8-2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất. Giá đất để tính chênh lệch tiền sử dụng đất là giá đất do UBND tỉnh Quảng Ninh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm giao đất (năm 2003), nhưng không thấp hơn mức giá đất cùng loại theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 17/1998/NĐ-CP ngày 21-3-1998 “V/v sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 4 của Nghị định số 87/CP ngày 7-8-1994 quy định khung giá các loại đất”.
Sở Tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan có liên quan xác định giá đất để tính chênh lệch tiền sử dụng đất nêu trên trình UBND tỉnh Quảng Ninh quyết định.
2. Về giá đất để tính đền bù và mức hỗ trợ tôn tạo để lập phương án bổ sung đền bù, hỗ trợ cho bà Ôn Bích Loan và các hộ dân theo kiến nghị tại điểm 2, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ được thực hiện như sau:
Theo quy định của pháp luật, về nguyên tắc khi thu hồi đất tại thời điểm nào thì áp dụng đền bù thiệt hại (bồi thường) đang có hiệu lực tại thời điểm đó; việc thu hồi đất của bà Ôn Thị Bích Loan và một số hộ dân tại thời điểm năm 2000, nên sẽ được áp dụng đền bù theo chính sách quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24-4-1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Theo quy định tại điều 8, Nghị định 22/1998/NĐ-CP thì giá đất để tính đền bù thiệt hại do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cho từng dự án theo đề nghị của Sở Tài chính-Vật giá có sự tham gia của các ngành có liên quan. Do đó thực hiện như sau:
+ Giá đất khi lập phương án bổ sung đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân theo kiến nghị tại điểm 2, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ là giá đất của UBND tỉnh Quảng Ninh đã quyết định để áp dụng đền bù đất cho dự án này (tại thời điểm tháng 4-2002), cụ thể:
+ Giá đất ở tính đền bù thiệt hại về đất ở cho mỗi hộ chính chủ theo hạn mức 80m2, riêng hộ bà Nguyễn Thị Ngọc đền bù 40m2 (theo kiến nghị tại tiết 2.1, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ) là giá đất ở của UBND tỉnh Quảng Ninh trước đây (tháng 4/2002) đã quyết định để áp dụng đền bù đất ở cho dự án này.
+ Giá đất chuyên dùng tính đền bù thiệt hại về đất chuyên dùng cho 3 hộ (theo kiến nghị tại nhóm 1 tiết 2.2 tại điểm 2, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ) là giá đất chuyên dùng của UBND tỉnh Quảng Ninh trước đây (tháng 4-2002) đã quyết định để áp dụng đền bù đất chuyên dùng cho dự án này.
+ Giá đất vườn liền kề tính đền bù thiệt hại về đất vườn liền kề cho 3 hộ (theo kiến nghị tại nhóm 2 tiết 2.2 tại điểm 2, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ) là đất vườn liền kề của UBND tỉnh Quảng Ninh (tháng 4-2002) đã quyết định để áp dụng đền bù đất chuyên dùng cho dự án này.
- Mức hỗ trợ công tôn tạo đối với diện tích bị thu hồi không được đền bù theo kiến nghị tại nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 tiết 2.2 tại điểm 2, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ) là mức hỗ trợ công tôn tạo trước đây (tháng 4-2002) UBND tỉnh Quảng Ninh đã quyết định để áp dụng hỗ trợ công tôn tạo cho dự án này.
Trường hợp đến nay sau khi lập phương án bổ sung đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân (nêu trên), xét thấy cần hỗ trợ, UBND tỉnh Quảng Ninh xem xét vận dụng hỗ trợ thêm cho các hộ dân theo hướng tính thêm lãi suất tiền gửi có thời hạn 5 năm của một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh có lãi suất cao nhất hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tính từ ngày phê duyệt phương án đền bù trước đây đến thời điểm lập phương án bổ sung đền bù hỗ trợ (như kiến nghị tại điểm 4, mục IV báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ)”.
D- Việc tổ chức thực hiện kiến nghị của Thanh tra Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay sau khi Đoàn Thanh tra Chính phủ thông qua dự thảo báo cáo kết luận UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp cùng UBND TP Hạ Long xử lý những việc trên cơ sở kiến nghị của đoàn Thanh tra Chính phủ.
1. Xử lý việc giao đất sai đối tượng tại khu tái định cư sau đoạn quản lý đường sông 3 và khu tái định cư Cầu Bãi Cháy sau trụ sở UBND phường Yết Kiêu.
1.1- Khắc phục hậu quả việc giao đất khu tái định cư Cầu Bãi Cháy sau trụ sở UBND phường Yết Kiêu:
- Ngày 27-9-2006 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành quyết định số 2860/QĐ-UBND V/v xử lý giao đất sai đối tượng tại khu tái định cư Cầu Bãi Cháy, theo đó UBND tỉnh giao cho Chủ tịch UBND TP Hạ Long ban hành quyết định thu hồi toàn bộ các ô đất mà UBND TP Hạ Long đã giao đất sai đối tượng.
- Ngày 1-11-2006 UBND TP Hạ Long đã ban hành 21 quyết định thu hồi quyết định giao đất của 21 hộ gia đình và cá nhân không phải là đối tượng di chuyển, GPMB; trong số đó có 19 trường hợp đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 2 trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất. Ngày 30-12-2006 UBND TP Hạ Long đã ban hành 15 quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp chưa xây dựng nhà. Tiếp đó UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND TP Hạ Long ban hành tiếp 4 quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 4 trường hợp đã xây dựng nhà và thoái thu tiền sử dụng đất đã nộp vào ngân sách nhà nước cho 19 trường hợp đã được giao đất sai đối tượng.
- UBND tỉnh đã ban hành quyết định số 4299/QĐ-UB ngày 29-12-2006 về mức thu tiền chênh lệch đối với các trường hợp được giao đất là đối tượng phải di chuyển GPMB nhưng không đủ điều kiện đền bù về đất ở, làm cơ sở để UBND TP Hạ Long thu bổ sung tiền sử dụng đất đối với các trường hợp không đủ điều kiện được giao tái định cư.
1.2- Đối với các trường hợp được giao đất tại khu tái định cư sau Đoạn Quản lý đường sông 3:
+ UBND TP Hạ Long đã ban hành 6 quyết định thu bổ sung tiền sử dụng đất đối với 5 trường hợp là cán bộ luân chuyển từ huyện về công tác tại tỉnh và 1 cán bộ công tác lâu năm ở tỉnh. Đến nay cả 6 trường hợp đã thực hiện việc nộp tiền chênh lệch theo quyết định số 4299/QĐ-UB ngày 29-12-2006 của UBND tỉnh.
+ UBND TP Hạ Long đã ban hành quyết định thu hồi đất đối với hộ ông Đại, ông Thọ và ông Nhiên. Riêng trường hợp hộ ông Lê Đình Quý là đối tượng phải di dời GPMB thực hiện dự án Nhà máy xử lý nước thải phường Bãi Cháy, đủ điều kiện giao đất tái định cư, do vậy UBND tỉnh đồng ý giữ nguyên ô đất đã giao cho ông Quý trong khu tái định cư sau Đoạn Quản lý đường sông 3.
2- Về việc xử lý 2 trường hợp có dấu hiệu sai phạm trong việc giao đất cho tổ hợp Hà Đồng Thư và đất tái định cư sau Đoạn Quản lý đường sông 3:
- Ngày 11-1-2007, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản số 197/UBND-NC chỉ đạo Thanh tra tỉnh chuyển toàn bộ hồ sơ có liên quan đến việc sử dụng đất của Tổ Hợp lực Quảng Ninh (Công ty Cổ phần ô tô Hà Thư) sang Công an tỉnh để điều tra, xác minh làm rõ nội dung: “Có dấu hiệu chuyển nhượng đất trái phép giữa Xí nghiệp công viên cây cảnh Hạ Long và Tổ hợp lực Quảng Ninh”. Qua quá trình điều tra, xác minh, ngày 11-4-2007, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh đã có báo cáo số 402-CV-CQCSĐT “V/v báo cáo kết quả điều tra, xác minh...”; văn bản số 101/VKS ngày 27-4-2007 của Viện Kiểm sát tỉnh Quảng Ninh. Nội dung của 2 văn bản trên đều có kết luận: Không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng đất trái phép giữa Xí nghiệp công viên cây cảnh Hạ Long và Tổ Hợp lực Quảng Ninh trước khi UBND TX Cẩm Phả trình UBND tỉnh Quảng Ninh cho Tổ hợp lực Quảng Ninh thuê đất. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý hình sự đối với sự việc trên (Công văn số 2314/UBND-QLĐĐ ngày 29-5-2007 của UBND tỉnh Quảng Ninh).
- Ngày 31-12-2006 sau khi xác minh việc cấp đất tái định cư trong khu tái định cư sau Đoạn Quản lý đường sông 3 cho hộ ông Nguyễn Văn Nhắc, Công an TP Hạ Long đã có báo cáo số 07/BC-CATP khẳng định vi phạm của ông Doãn Công Định. UBND tỉnh đã yêu cầu UBND TP Hạ Long giao cho Công an TP Hạ Long xem xét xử lý pháp luật ông Doãn Công Định - cán bộ địa chính phường Hồng Hà. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hạ Long đã có kết luận điều tra chuyển Viện Kiểm sát nhân dân thành phố để xử lý trước pháp luật.
3. Việc kiểm điểm, xử lý kỷ luật đối với 4 cán bộ có liên quan những sai phạm mà đoàn Thanh tra của Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị:
- UBND TP Hạ Long đã ban hành quyết định kỷ luật cảnh cáo đối với ông Lê Hữu Đoàn và ông Đoàn Trung Chính.
- UBND tỉnh đã ban hành quyết định:
+ Cách chức Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường đối với ông Phùng Danh Đài.
+ Cảnh cáo đối với ông Nguyễn Mạnh Tuấn- Phó Chủ tịch UBND TP Hạ Long.
+ Khiển trách đối với UBND TP Hạ Long nhiệm kỳ 1999-2004.
4. Thực hiện kiến nghị của Thanh tra Chính phủ, UBND TP Hạ Long đã giao 1 ô đất tái định cư cho hộ bà Phạm Thị Hợi; đã thống nhất với hộ ông Nguyễn Ngọc Mậu và hộ ông Phạm Ngọc Tài về địa điểm để hai hộ thuê đất làm cơ sở sản xuất kinh doanh, UBND thành phố đã báo cáo UBND tỉnh; sau khi xem xét, UBND tỉnh đã có văn bản số 2054/UBND ngày 14-5-2007 chấp thuận đề nghị của UBND TP Hạ Long về địa điểm cho hai hộ thuê đất; trên cơ sở đó, hiện nay UBND TP Hạ Long và các ngành hữu quan đang triển khai các công việc tiếp theo để giải quyết thủ tục cho hai hộ thuê đất.
5. Đối với việc tố cáo: Còn khoảng 200 lô đất tái định cư giao sai đối tượng (nếu có) nhưng chưa được làm rõ.
Đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thẩm tra, xác minh xong. Ngày 1-6-2007 Đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ đã có buổi làm việc với UBND tỉnh, tại buổi làm việc Đoàn đã thông báo kết quả thẩm tra, xác minh và cũng chưa phát hiện ra những sai phạm có liên quan đến 200 ô đất mà các hộ dân tố cáo. Đồng thời yêu cầu UBND TP Hạ Long báo cáo giải trình một số nội dung chưa thống nhất giữa UBND thành phố và Sở Tài chính. Ngày 13-6-2007 UBND TP Hạ Long đã có báo cáo số 87, 88/BC-UBND gửi Đoàn thanh tra, Thanh tra Chính phủ. Đến thời điểm này, chưa có kết luận chính thức của Thanh tra Chính phủ.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo kết luận số 2784/BC-TTCP ngày 28-12-2006 của Thanh tra Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính tại công văn số 8184/BTC-QLCS ngày 21-6-2007, UBND tỉnh Quảng Ninh giao cho các ngành chức năng của tỉnh đang tiến hành lập phương án bổ sung đền bù, hỗ trợ cho 10 hộ dân phường Hồng Hải và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại, Tố cáo.