Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển VĐKT ven biển Vịnh Bắc Bộ gồm Quảng Ninh và Hải Phòng đến năm 2020

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế (VĐKT) ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm 2020.

Theo đó, VĐKT gồm tỉnh Quảng Ninh và TP Hải Phòng, có diện tích tự nhiên 7.418,8km2, dân số gần 2,9 triệu người. Đến năm 2020, VĐKT đóng góp khoảng 6,5-7% GDP cả nước; thu nhập bình quân đầu người đạt 3.500-4.000 USD/năm. Mục tiêu của quy hoạch là nhằm phát triển VĐKT ven biển Vịnh Bắc Bộ thành khu vực kinh tế năng động; kết nối với 2 hành lang kinh tế Việt- Trung và khu vực biển Nam Trung Quốc, tạo điều kiện mở rộng hiệp thương và hợp tác phát triển với Trung Quốc, ASEAN một cách chủ động, hiệu quả.

Trong định hướng, phát triển các vùng động lực, Quy hoạch sẽ tập trung xây dựng hoàn chỉnh trục giao thông nòng cốt như tuyến giao thông ven biển Móng Cái-Hạ Long-Hải Phòng-Ninh Bình. Đồng thời, xem xét việc xây dựng tuyến cao tốc Quảng Ninh-Hải Phòng-Ninh Bình để kết nối Quảng Ninh với Hải Phòng và kết nối VĐKT với các tỉnh phía Nam, mạng cao tốc trong cả nước cũng như hệ thống đường cao tốc ven biển Nam Trung Quốc. Quy hoạch yêu cầu chú trọng phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp quan trọng... để tạo thành một dải vùng động lực. Trong đó, phát triển Khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) với chức năng chính là khu du lịch sinh thái biển-đảo chất lượng cao tầm cỡ khu vực và quốc tế; phát triển KCN Hải Hà (Quảng Ninh) thành khu trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn; phát triển TP Hạ Long thành trung tâm của VĐKT, lấy phát triển du lịch và dịch vụ làm trọng tâm để thúc đẩy các ngành khác và hạn chế dần khai thác than công nghiệp. Tương tự, xây dựng thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái là điểm khởi đầu của VĐKT. Đây sẽ là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và là  trung tâm công nghiệp chế biến, chế tác và lắp ráp xuất khẩu.

Nhằm thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế chủ đạo, Quy hoạch hướng đến ưu tiên phát triển ngành công nghiệp cơ bản, then chốt, kết hợp với phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp khoảng 18-19%. Tập trung nguồn lực và chính sách ưu đãi cho một số ngành công nghiệp: than, nhiệt điện, đóng tàu, cơ khí chế tạo... Cụ thể, về than, sẽ quản lý chặt chẽ tình trạng khai thác than trái phép, đồng thời giảm dần xuất khẩu than; về điện, đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào hoạt động các nhà máy nhiệt điện Uông Bí II, Cẩm Phả I, II. Tiếp tục nâng cấp và mở rộng các nhà máy đóng tàu Phà Rừng-Bạch Đằng, Nam Triệu. Hoàn thiện KCN đóng tàu Cái Lân, Nhà máy Đóng tàu Hạ Long nhằm đáp ứng từ 80-85% nhu cầu sửa chữa tàu sông của vùng Bắc Bộ và 40-50% nhu cầu đóng mới, sửa chữa của cả nước.

Bên cạnh việc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, VĐKT chú trọng phát triển du lịch nhanh và bền vững, đến năm 2010, thu hút khoảng 7,5 triệu lượt khách du lịch. Về thương mại dịch vụ, phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên VĐKT tăng bình quân trên 20% (giai đoạn 2011-2020).

Với lợi thế có chiều dài bờ biển, VĐKT sẽ đẩy mạnh khai thác thủy hải sản xa bờ, nâng tỷ trọng đánh bắt xa bờ lên 65-70%. Xuất khẩu thủy sản vào năm 2010 đạt 600-700 triệu USD.

Cùng chuyên mục