Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia: Giải quyết đúng trọng tâm, trọng điểm

Các chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm nhiều lĩnh vực, như giảm nghèo, giải quyết việc làm, dân số và kế hoạch hoá gia đình, phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, vệ sinh an toàn thực phẩm, văn hoá, giáo dục và đào tạo, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý... 5 năm qua (2006-2010), thực hiện các chương trình này, tỉnh đã từng bước giải quyết đúng trọng tâm, trọng điểm những vấn đề bức xúc nhất một cách hiệu quả.

Từ đó, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 10,62% (giữa năm 2005) xuống còn 4,09% (năm 2010). Tại các địa phương được thụ hưởng, mức sống của các hộ nghèo ngày càng tăng, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân được cải thiện. Nhiều công trình trường học, cấp nước sạch, trùng tu, tôn tạo di tích văn hoá - lịch sử và các dự án bảo tồn văn hoá phi vật thể được đầu tư, đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Việc đầu tư hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cơ sở y tế, giáo dục, đào tạo, hỗ trợ sản xuất và phát triển nghề đã góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, tạo sự chuyển dịch lao động trong nông nghiệp. Công tác phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, vệ sinh an toàn thực phẩm... được thực hiện tốt. Từ 2006 đến nay, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được cải thiện...

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia: Giải quyết đúng trọng tâm, trọng điểm ảnh 1
Đầu tư kênh dẫn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp tại bản Tài Phố, xã Quảng Đức (Hải Hà).

Có được kết quả trên, trong quá trình triển khai thực hiện, Chương trình đã được các cấp, ngành, địa phương cụ thể hoá bằng nhiều nhóm giải pháp đồng bộ, từ việc quản lý chỉ đạo thực hiện tới các dự án cụ thể cho người nghèo, hộ nghèo. Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo có chức năng điều hành chung, đồng thời phân cấp, giao trách nhiệm cụ thể cho các ngành, các cấp chủ động triển khai theo lĩnh vực mà mình phụ trách. Một số chương trình có yêu cầu tính chuyên môn cao được thành lập Ban chỉ đạo riêng, lãnh đạo các sở chuyên ngành làm thường trực. Việc xây dựng kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm được tiến hành, đồng thời với việc xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh và tuân thủ đúng danh mục theo quy định của Nhà nước. Có sự lồng ghép giữa các chương trình liên quan trên cùng một địa bàn, lồng ghép giữa vốn Trung ương với các nguồn đầu tư của địa phương nhằm phát huy hiệu quả, không chuyển vốn của chương trình này để bố trí cho chương trình khác. Tổng kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006-2010 hơn 2.197 tỷ đồng, trong đó ngân sách của tỉnh cân đối chiếm tới gần 805 tỷ đồng. Công tác chuẩn bị đầu tư, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư, tổ chức đấu thầu thực hiện theo các quy định chung của Nhà nước và các nghị định hướng dẫn. Đến nay 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi lại được quanh năm; 100% người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế; 70% diện tích đất canh tác ở các xã nghèo đã chủ động được tưới tiêu; 83% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 67% hộ nông thôn có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn; 85% xã có chợ hoặc chợ trung tâm cụm xã.

Tiêu biểu trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia triển khai trên địa bàn tỉnh phải kể đến chương trình giảm nghèo. Đây là chương trình được tỉnh đặc biệt quan tâm. Để đảm bảo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế, 18 công trình về thuỷ lợi, y tế, nước sạch, đường liên thôn ở các xã Vạn Yên, Đài Xuyên, Bản Sen, Thắng Lợi (Vân Đồn) đã được đầu tư với tổng số vốn gần 15 tỷ đồng; 30 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư 104 công trình, với tổng số vốn gần 128 tỷ đồng. Bằng nguồn vốn khuyến nông, lâm, ngư hỗ trợ phát triển sản xuất, ngành nghề, toàn tỉnh đã triển khai được 40 dự án, mô hình với tổng kinh phí hơn 7,56 tỷ đồng, hỗ trợ gần 2.000 hộ dân phát triển kinh tế. Ngân hàng Chính sách xã hội đã mở 186 điểm giao dịch tại các xã và đã tiến hành cho gần 9.500 lượt hộ vay. Đặc biệt, từ năm 2006-2010, ngân sách tỉnh trích hơn 22 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất cho 41 xã khó khăn trên địa bàn, trong đó có 28 xã hỗ trợ 100% lãi suất, còn lại hỗ trợ 50% lãi suất… Bên cạnh sự hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh, việc huy động xã hội hoá nguồn lực thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo cũng rất được chú trọng. Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã giúp nhiều hộ nghèo, người nghèo có điều kiện sản xuất, phát triển kinh tế; xây mới, sửa chữa nhà ở...

Cùng với giảm nghèo, công tác giải quyết việc làm của Quảng Ninh cũng thu được những kết quả rất tích cực. Trong 5 năm qua, tỉnh đã tạo việc làm cho 130.719 người (bình quân 26.000 người/năm), lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp ngày một giảm tỷ trọng và tăng ở lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Sàn giao dịch việc làm (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) đã tổ chức 11 chợ phiên việc làm, 51 phiên giao dịch việc làm, thu hút 2.023 đơn vị tham gia và 24.381 người đăng ký tìm việc làm, 41.230 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm và pháp luật lao động; 14.136 người tìm được việc làm thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm...

Có thể thấy, việc quản lý các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010 là khá hiệu quả, đúng mục tiêu, nội dung, đối tượng, nhiều chỉ tiêu đạt kế hoạch theo chương trình đã đề ra. Từ khâu đề xuất, lập kế hoạch chương trình đến tổ chức thực hiện đều được lồng ghép hợp lý, cơ chế phân cấp quản lý đã tạo cho các địa phương chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn, đảm bảo tính dân chủ ở cơ sở. Nguồn vốn được sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung, công trình xây dựng cơ bản sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng đều phát huy được tác dụng...