Tại nhiều cuộc tiếp xúc của ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, đông đảo cử tri trong tỉnh đã kiến nghị rất nhiều vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với người cao tuổi.
Như gần đây, cử tri trong tỉnh phản ánh: “Việc triển khai thực hiện chính sách đối với người cao tuổi chậm, nhất là việc chi trả bảo trợ xã hội”. Sau khi nhận được kiến nghị này, Đoàn ĐBQH khoá XII của tỉnh đã tập hợp, báo cáo gửi Thường trực Tỉnh uỷ, Thường trực HĐND và UBND tỉnh để chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát, xem xét. Ngày 3-6 vừa qua, Sở Tài chính đã có Báo cáo số 1591 “Về việc giải quyết kiến nghị của cử tri với Đoàn ĐBQH tỉnh sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XII” để báo cáo UBND tỉnh và Đoàn ĐBQH tỉnh. Theo báo cáo này thì việc chi trả chậm không phải do nguyên nhân thiếu nguồn kinh phí.
Đầu tháng 7 vừa qua, Đoàn ĐBQH tỉnh đã tổ chức khảo sát tại 14 xã, phường, thuộc 5 huyện, thành phố của tỉnh là: Đông Triều, Yên Hưng, Vân Đồn, Hải Hà và Móng Cái. Nội dung khảo sát tập trung chủ yếu vào tình hình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và tổ chức chúc thọ, mừng thọ, tang lễ đối với người cao tuổi được quy định tại mục 4, mục 5, Luật Người cao tuổi. Theo kết quả khảo sát: Từ cuối tháng 12-2010 UBND tỉnh, Sở LĐ-TB&XH, Sở Tài chính đã có một số văn bản chỉ đạo về việc triển khai một số nhiệm vụ liên quan đến đối tượng bảo trợ xã hội; trong đó có việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội với người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên đến dưới 85 tuổi. Đây là nhóm đối tượng mới được hưởng bảo trợ xã hội (từ ngày 1-1-2011). Tuy nhiên, trừ TP Móng Cái có 17 trường hợp được xét duyệt chi trả tương đối sớm (từ ngày 17-1-2011), còn các địa phương khác, sớm nhất cũng từ ngày 7-4-2011. Như huyện Yên Hưng, danh sách chi trả trợ cấp hàng tháng đợt 1 được ký duyệt vào ngày 27-6-2011. Danh sách này gồm 119 đối tượng được truy lĩnh 5 tháng và chi tháng 6-2011 với mức 300.000 đồng/người/tháng. Xã Quảng Điền (Hải Hà) bắt đầu chi trả từ tháng 4-2011, nhưng cũng chỉ chi mức 270.000 đồng/người/tháng (thiếu 30.000 theo quy định), còn 3 tháng quý I-2011 thì nợ lại. Một số địa phương còn chưa chi trả mức chênh lệch từ 120.000 đồng/người/tháng lên 300.000 đồng/người/tháng theo mức quy định của tỉnh tại Quyết định 3927/QĐ-UB cho đối tượng từ đủ 85 tuổi trở lên. Như vậy, có trường hợp đến lúc được truy lĩnh thì chắc chắn đã qua đời. Không những thế, qua khảo sát, chưa có xã, phường nào thực hiện đúng trách nhiệm về tổ chức chúc thọ, mừng thọ như quy định tại khoản 3, Điều 21, Luật Người cao tuổi. Việc trích kinh phí cấp hỗ trợ cho hoạt động này mỗi nơi, mỗi khác. Có địa phương trích từ nguồn chi thường xuyên và được thể hiện rõ nội dung chi là hỗ trợ Hội Người cao tuổi tặng quà chúc thọ các cụ cao tuổi; có xã thì báo cáo là phải ghi để chi hội nghị, nhưng thực chất là “lẩn khoản”. Còn nơi nào có điều kiện huy động xã hội hoá thì chủ yếu chi từ nguồn huy động các doanh nghiệp, tổ chức, nhà hảo tâm...
Việc tổ chức học tập, phổ biến các chính sách ưu đãi đối với người cao tuổi và Luật Người cao tuổi chưa được triển khai sâu rộng. Theo báo cáo của các địa phương thì việc này được tiến hành đến cấp xã, nhưng cấp xã lại giao cho Hội Người cao tuổi để phổ biến đến các hội viên. Như thế, còn một bộ phận không phải là hội viên; người đủ điều kiện hưởng chính sách không nắm được quy định để chủ động giám sát, kê khai, làm hồ sơ... Một số quy định, hướng dẫn do các cơ quan có thẩm quyền ban hành chưa quy định cụ thể hoặc bất cập, thậm chí không phù hợp với quy định của T.Ư. Như tại khoản 2, Điều 17, Luật Người cao tuổi quy định đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội là “Người từ đủ 80 tuổi trở lên…”, nhưng tại điểm 2.8 Văn bản 455/SLĐTB-STC ngày 19-4-2011của liên ngành Tài Chính, Lao động - Thương binh và Xã hội lại quy định “Cách tính thời điểm bắt đầu được hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc điều chỉnh sang hưởng mức trợ cấp khác với mức trợ cấp đang hưởng đối với các loại đối tượng có liên quan đến quy định độ tuổi là tháng sau liền kề với tháng bắt đầu bước vào độ tuổi quy định được hưởng trợ cấp hoặc hưởng mức trợ cấp khác với mức trợ cấp đang hưởng”. Với quy định này đã phát sinh bất cập, những người sinh đầu tháng thì thực tế được hưởng khi mà tuổi đã đủ 80 tuổi cộng 1 tháng, chứ không được hưởng từ đủ 80 tuổi, nên trái với quy định của Luật. Tại điểm 2.9 của văn bản này quy định “Khi xét cho hưởng trợ cấp xã hội không xác định được tháng sinh thì tháng sinh của đối tượng này được tính vào tháng 12 năm đó”. Nhưng tại điểm h, khoản 5, Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 2-6-2008 của Bộ Tư pháp “Về hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 158/2005/ NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký quản lý hộ tịch” thì quy định, trong trường hợp không xác định được ngày, tháng năm sinh thì lấy ngày 1-1 của năm đó làm ngày sinh. Như vậy, nếu áp dụng theo Văn bản số 455, thì người cao tuổi nào sinh tháng 1 sẽ thiệt mất 1 năm hưởng trợ cấp.
Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi vẫn còn có sự nhầm lẫn. Nhiều nơi coi Hội Người cao tuổi là cơ quan chuyên môn của UBND cấp xã, nên việc thực hiện chính sách đối với người cao tuổi là nhiệm vụ của lãnh đạo tổ chức này. Nhưng thực tế, cán bộ Hội Người cao tuổi ở cơ sở không được hưởng chế độ như cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội khác, dẫn đến phát sinh sự so sánh quyền lợi…
Qua kết quả khảo sát cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện chính sách cho người cao tuổi bị chậm trễ. Song chủ yếu là do việc ban hành văn bản hướng dẫn cấp cơ sở thực hiện chưa kịp thời, trong khi cán bộ thực hiện nhiệm vụ này ở cấp xã rất ít, số đối tượng được hưởng khá nhiều, nên khó có thể đảm bảo được tiến đô. Nguồn kinh phí chi trả chế độ cho người cao tuổi chưa được chủ động đưa vào kế hoạch phân khai ngân sách từ đầu năm cho các địa phương, nên không đủ nguồn để chi trả. Vì thế, đông đảo cử tri mong muốn cần sớm rà soát, điều chỉnh một số văn bản cho phù hợp, thống nhất, đồng thời tăng cường cán bộ để thực hiện công tác này.