Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Quảng Ninh được coi là một Việt Nam thu nhỏ với các dạng địa hình phong phú, nhiều tiềm năng và là một trọng điểm kinh tế nằm trọng vẹn trong chương trình “hai hành lang, một vành đai kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trong những năm qua, với những thuận lợi từ kết quả đạt được sau hai mươi năm đổi mới, Quảng Ninh đã cơ bản thay đổi diện mạo trên mọi lĩnh vực. Nhịp độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao, kinh tế tiếp tục phát triển ở mức cao và ổn định, các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế - xã hội đều tăng cao. Đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, tích cực ở các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. Chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được đảm bảo, trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội được giữ vững, đời sống của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh được cải thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, tiến trình xây dựng và phát triển của Quảng Ninh đã và đang gặp phải không ít khó khăn. Ngoài những khó khăn chung của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ảnh hưởng của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như các địa phương khác trên cả nước, Quảng Ninh còn gặp phải những khó khăn riêng của địa phương. Một trong những khó khăn đó là tình hình tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh có chiều hướng gia tăng, với tính chất ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, chịu nhiều yếu tố vùng biên. Các nhóm tội phạm thường xảy ra tại các khu vực biên giới như: Buôn lậu, mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, buôn bán và vận chuyển ma tuý, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới v.v. xảy ra với tính chất ổ nhóm và số lượng lớn, với đường dây xuyên quốc gia đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống nhân dân.
Trong các nhóm tội trên, phải kể đến tội phạm về mua bán phụ nữ, trẻ em là nhóm tội xâm hại trực tiếp đến quyền tự do, dân chủ, quyền được bảo vệ thân thể, sức khoẻ và các quyền khác của phụ nữ và trẻ em, xâm phạm nghiêm trọng các điều ước quốc tế cũng như pháp luật Viện Nam hiện hành về bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em. Do đó, trước tình hình thực tế phức tạp của tội phạm về mua bán phụ nữ, trẻ em tại Quảng Ninh, các cơ quan chức năng dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương đều có kế hoạch tích cực tăng cường đấu tranh, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi trường hợp phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em, đồng thời đẩy mạnh công tác phòng ngừa tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh.
Qua theo dõi diễn biến tội phạm về mua bán phụ nữ, trẻ em cho thấy tính chất, thủ đoạn của dạng tội phạm này ngày càng tinh vi và mức độ hậu quả gây ra cũng rất nghiêm trọng. Các vụ án đa phần đều có đông đối tượng tham gia. Diện, địa bàn hoạt động của chúng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh mà qua nhiều tỉnh, có sự cấu kết chặt chẽ giữa người Việt Nam với đường dây mua bán phụ nữ, trẻ em ở nước ngoài. Nhất là tội phạm là người Trung Quốc ở các vùng biên giới cửa khẩu Móng Cái, Bình Liêu…Qua thống kê trong 5 năm (2005-2009), tổng số bị hại xác định được là 122 người, trong đó có 91 phụ nữ và 31 trẻ em, tăng trung bình 37 % so với cùng kỳ. Phần lớn các nạn nhân trong các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em đều là các phụ nữ, trẻ em, trẻ em sơ sinh ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, điều kiện sống khó khăn, trình độ văn hoá thấp, ít hiểu biết về những vấn đề tiêu cực xã hội, không có công ăn, việc làm …Và hầu hết đễu dễ bị các đối tượng phạm tội tiếp cận, dụ dỗ, lôi kéo bằng các lợi ích kinh tế.
Khi bị tiếp cận để đem bán, các nạn nhân trong các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em thường bị lừa đảo với một trong các phương thức thủ đoạn sau đây:
- Đối với phụ nữ, trẻ em ở nông thôn: Các đối tượng phạm tội thường tìm những người phụ nữ, các cháu gái còn trẻ ở nông thôn, đang có nhu cầu ra các đô thị kiếm việc làm (Phần lớn ở các tỉnh miền núi, trung du cách xa Quảng Ninh như Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang…) và hứa xin việc làm với thu nhập cao hơn thu nhập trong nước rồi đưa sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái (thường là xuất cảnh trái phép).
- Đối với phụ nữ, trẻ em ở thành thị: Cũng với những thủ đoạn tương tự như nêu trên, nhưng tội phạm đa phần đều có sự quen biết từ trước với các nạn nhân nên dễ dàng tạo lòng tin để lừa bán. Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng mối quan hệ là người cùng xóm, phố, họ hàng xa, bạn bè, thậm chí là người yêu. Những trường hợp này người bị hại hoàn toàn không biết và không nghĩ bản thân mình có thể dễ dàng bị lừa đưa đi qua cửa khẩu để bán sang Trung Quốc.
- Đối với các cháu bé sơ sinh: Các cháu bé sơ sinh bị bán sang Trung Quốc hoặc các cháu từ Trung Quốc bị bán sang Việt Nam hầu hết đều không làm rõ được nguồn gốc xuất thân. Phần lớn các cháu bé bị đem mua bán đều là các bé trai, còn ít ngày tuổi. Đối tượng phạm tội thường sử dụng nhiều chân rết để lén lút đưa các cháu qua cửa khẩu rồi giao lại cho người đã đợi sẵn ở biên kia biên giới.
Khi các chị phụ nữ và các cháu gái ở tuổi chưa thành niên bị bán sang Trung Quốc, hầu hết họ đều bị giao cho các nhà hàng, ổ, tụ điểm mãi dâm hoặc gả bán làm vợ cho một hoặc nhiều người đàn ông Trung Quốc. Thậm chí tiếp tục bị đưa sang nước thứ ba hoặc bị sử dụng vào các mục đích xấu khác như lấy nội tạng cấy ghép.v.v.
Các nạn nhân rất ít có cơ may trở về với gia đình, tổ quốc, bởi điều kiện ngôn ngữ bất đồng làm cho họ không đủ khả năng để đến trình báo tại các cơ quan pháp luật nơi họ bị đưa đến. Hoặc sau một thời gian đã thông thạo tiếng Trung Quốc thì họ không có điều kiện kinh tế để tự về nước, hoặc do mặc cảm sau khi bị bán nên đành ở lại nơi đất khách quê người. Nhưng cũng có một số các chị, các cháu may mắn hơn đã kịp thời đến cơ quan chức năng hoặc thông qua người Việt Nam sang làm ăn để thông tin về nước, nhờ cứu giúp trở về Việt Nam.
Thực tế còn cho thấy có một số trường hợp các chị phụ nữ bị bán sang Trung Quốc là do người nhà ở Trung Quốc nhận móc nối để làm mai mối hôn nhân. Những người nhận mai mối đã nhận tiền hoặc hiện vật và người bị gả bán biết trước, thậm chí đồng tình trong việc ra nước ngoài lấy chồng, nhưng sự thực sau khi bị đưa ra nước ngoài mới biết mình bị lừa đảo để nhằm mục đích khác. Đây cũng là một dạng hành vi phạm tội gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong quá trình điều tra, xử lý.
Nhận dạng đối tượng phạm tội: Qua theo dõi từ các vụ án cụ thể cho thấy, các đối tượng phạm tội tập trung ở độ tuổi từ 20 đến 35, chủ yếu là những đối tượng không có nghề nghiệp, phạm tội với mục đích kinh tế, thông thạo địa hình ở những khu vực biên giới. Qua nghiên cứu về nhân thân các đối tượng “buôn người” này, có thể chia làm hai dạng:
Dạng thứ nhất là các tội phạm cơ hội: Các đối tượng phạm tội dạng này hầu hết là nam thanh niên, tuổi từ 18 đến 35, có bạn gái hoặc người yêu còn trẻ. Các cô gái trẻ này có đặc điểm nhẹ dạ, dễ rủ đi chơi xa…nên bị các đối tượng phạm tội chủ động móc nối với các đối tượng buôn bán phụ nữ rồi đưa các cô sang Trung Quốc. Các đối tượng phạm tội sẽ liên tục thực hiện những thủ đoạn gian dối, phổ biến là: Giới thiệu sai tên, địa chỉ khi làm quen; tự giới thiệu đang làm ăn qua lại khu đường biên; tỏ ra có khả năng kinh tế dư giả để bao ăn, ở; rủ đi chơi, đi mua sắm, tìm người thân; trên đường đi không nói chính xác địa danh, cách ly không cho các cô gái tiếp xúc với người địa phương nhằm che giấu mục đích; bịa đặt những tình huống không có thật để lừa đảo các cô gái v.v. Các cô gái trẻ vì quá tin tưởng vào tình bạn, tình yêu mà không hề cảnh giác trước những cạm bẫy nơi mình bị đưa đến. Kẻ phạm tội đã lợi dụng sự non nớt của các cô gái để phạm tội. Thậm chí có trường hợp kẻ phạm tội đang tâm đem chính họ hàng, chị, em mình đem bán, vì đồng tiền mà bất chấp tình thâm, bất chấp hậu quả.
Dạng thứ hai là tội phạm có tính chất tổ chức cao: là dạng tội phạm buôn bán người có tính chất tổ chức dạng cao hơn và là các “ông chủ”, “bà chủ” tiếp nhận người bị bán từ những tội phạm cơ hội nêu trên. Các đối tượng này thực hiện việc mua bán phụ nữ, trẻ em theo đường dây, chủ yếu điều hành mọi hoạt động bằng điện thoại nhưng không thuê bao cố định, không trực tiếp ra mặt. Mánh lới của chúng cũng rất đa dạng, phong phú, có cấu kết chặt chẽ với người nước ngoài, núp dưới nhiều hình thức như tổ chức thuê, tuyển người lao động để đưa sang Trung Quốc làm nhưng thực chất là đưa các cô gái Việt Nam đi bán. Hoặc đưa các cháu bé sơ sinh còn rất nhỏ ra những khu nhà tạm tại nơi gần đường biên giới, lợi dụng sự quản lý thiếu chặt chẽ của chính quyền đối với các đối tượng từ tỉnh ngoài đến tạm trú mà chia lẻ để từng người giả làm bà trông cháu, giả làm ô sin bế các cháu bé qua cửa khẩu sang Trung Quốc giao cho đồng bọn đã đợi sẵn. Khi bị phát hiện bắt giữ, các đối tượng trực tiếp giao các cháu bé thậm chí không biết mặt, biết tên người chỉ đạo, thuê mình là ai. Một số trường hợp cũng không biết các cháu bé được đem đi vào mục đích gì. Số tiền những người được thuê này được trả cũng rất rẻ mạt, chỉ bằng một vài ngày công lao động.
Trong số các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em đã được phát hiện thì có một tỷ lệ không nhỏ các đối tượng phạm tội là những người phụ nữ trước đây đã từng bị bán sang Trung Quốc. Sau một thời gian sinh sống ở Trung Quốc đã tìm đường kinh doanh, làm ăn bằng chính thủ đoạn trước đây mình đã từng bị là nạn nhân. Các đối tượng này thường nhắn tin về Việt Nam nhờ tìm người đưa sang Trung Quốc hoặc tự mình về quê quán với hình thức thăm quê, nhưng thực chất lừa đảo để bán các chị, các em sang Trung Quốc như đã nêu trên.
Với các hình thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, các cơ quan chức năng đang phải đối mặt với một lượng tội phạm không nhỏ. Trong 5 năm qua, mặc dù số lượng các vụ án được phát hiện, xử lý đã tăng lên đáng kể, nhưng cũng chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tế, đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp phù hợp hơn để đối phó với diễn biến ngày càng phức tạp ở dạng tội phạm này.