Ở Việt Nam trong thế kỷ trước đã có nhiều lần dịch tả xảy ra ở nhiều vùng trong cả nước được ghi nhận, nhất là ở khu vực các tỉnh miền nam.
Theo Cục trưởng Y tế dự phòng Nguyễn Huy Nga,cách phòng bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm trong đó có bệnh tả một cách hữu hiệu và đơn giản nhất là ăn chín, uống sôi. Rửa tay thật kỹ bằng xà-phòng trước khi ăn uống, trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi vệ sinh hay chăm sóc người ốm.
Trong vòng 200 năm qua, thế giới đã trải qua bảy vụ đại dịch tả với hàng trăm nghìn ca tử vong.
Ở Việt Nam trong thế kỷ trước đã có nhiều lần dịch tả xảy ra ở nhiều vùng trong cả nước được ghi nhận, nhất là ở khu vực các tỉnh miền nam.
Năm 1885, dịch tả xảy ra trong một đơn vị quân đội thực dân Pháp ở Việt Nam tỷ lệ tử vong là 50%.
Từ năm 1910 đến năm 1930 hằng năm số người bị mắc bệnh tả ở Việt Nam dao động từ 5.000 đến 30 nghìn người.
Năm 1937-1938 dịch tả lớn từ Hồng Công theo đường biển xâm nhập vào các vùng phía bắc là Hải Phòng và Móng Cái. Từ đó dịch lan theo đường sắt và đường bộ tới nhiều tỉnh miền bắc và miền trung, số người mắc bệnh lên tới 20.687 người và trong đó 14.992 người đã chết với tỷ lệ tử vong là 70%.
Sau gần ba năm vắng bóng, kể từ năm 2004, cuối năm 2007 dịch tiêu chảy cấp lại xuất hiện tại TP Hà Nội và 13 tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ với 1.991 ca có triệu chứng lâm sàng và 295 trường hợp được khẳng định dương tính với phẩy khuẩn tả, sau mấy tháng nỗ lực phòng, chống nước ta đã hoàn toàn dẹp được dịch tiêu chảy cấp.
Ðầu tháng 3-2008 dịch tiêu chảy cấp lại bùng phát, tính đến thời điểm này, trên cả nước có 11 tỉnh, thành phố đã có người mắc bệnh tiêu chảy cấp với 364 trường hợp trong đó có 85 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả. Riêng tại Hà Nội có hơn 200 trường hợp mắc tiêu chảy cấp, 44 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả, nhưng đã có 30 trường hợp trong tổng số 44 trường hợp đã ra viện.
Bệnh tiêu chảy cấp là một loại dịch tả nguy hiểm có các triệu chứng chính là tiêu chảy, nôn mất nước và rối loạn điện giải cấp tính, có thể gây thành dịch lớn với tỷ lệ tử vong cao.
Bệnh tả El Tor lần đầu xuất hiện tại miền nam năm 1964 với 20.009 người mắc và 821 ca tử vong. Từ đó tới nay ở miền trung và miền nam bệnh tiêu chảy cấp xuất hiện hằng năm với hàng trăm ca được báo cáo dưới dạng dịch lưu hành. Tại các tỉnh phía bắc dịch xuất hiện liên tục trong những năm từ 2000 đến 2004 với mỗi năm hàng chục tới hàng trăm trường hợp.
Tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp là vi khuẩn tả Vibrio cholerae, nhóm huyết thanh O1 (V. cholerae O1), gồm hai type sinh học: type cổ điển (Classica) và type El Tor. Mỗi type sinh học lại gồm ba type huyết thanh là Inaba, Ogawa và Hikojima. Ở Việt Nam chủ yếu gặp hai type huyết thanh là Inaba, Ogawa. Trong đợt dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm vừa qua tại các tỉnh phía bắc đã có hơn 295 người bệnh dương tính với phẩy khuẩn tả type Ogawa. Vi khuẩn tả có hình cong dấu phẩy, không sinh nha bào, di động nhanh nhờ có một lông. Phẩy khuẩn tả dễ nuôi cấy trong môi trường kiềm cao và muối mặn nhưng dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ và hóa chất. Trong nhiệt độ nước sôi vi khuẩn tả bị chết ngay lập tức, còn trong môi trường clo và a-xít nó cũng nhanh chóng bị tiêu diệt.
Bệnh tiêu chảy cấp lây theo đường tiêu hóa, chủ yếu qua ăn, uống. Nguồn vi khuẩn chủ yếu là người bệnh hoặc người lành mang trùng. Vi khuẩn phẩy tả rơi vào môi trường theo phân, hay thức ăn nôn mửa của người bệnh, theo phân của người lành mang trùng, sau đó xâm nhập vào đường tiêu hóa của người khác theo nước uống và thức ăn bị nhiễm vi khuẩn tả, nhất là những loại thức ăn có nguồn gốc thủy, hải sản. Khoảng 75%-80% người nhiễm vi khuẩn tả không có biểu hiện triệu chứng bệnh và được gọi là những "người lành mang trùng", tuy nhiên họ vẫn liên tục đào thải vi khuẩn theo phân ra môi trường trong vòng 7-14 ngày. Trong số những người có biểu hiện triệu chứng thì 80% là ở thể tiêu chảy nhẹ và vừa, chỉ 20% có biểu hiện tiêu chảy mất nước nặng.
Vi khuẩn tả cũng có thể tồn tại lâu dài ở vùng nước lợ ở cửa sông hay ven biển đặc biệt ở vùng có pH trung tính hoặc kiềm nhẹ và nước có chứa một số chất hữu cơ và khoáng. Vi khuẩn sống tập trung chủ yếu ở các loài thực động vật phù du như tảo, động vật thủy sinh, nhuyễn thể (tôm, cua, trai, sò, hến, ngao...). Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể sinh sôi nhanh và gây ra bệnh dịch, nhất là thường gặp là sau các đợt lũ lụt, thiên tai. Các vụ dịch tả xảy ra ở các nước phát triển như ở Mỹ, Canada, chủ yếu là do ăn hải sản tươi sống có chứa phẩy khuẩn tả.
Phẩy khuẩn tả là bệnh chỉ có ở người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Tuy nhiên việc phát bệnh còn phụ thuộc vào tính cảm thụ của mỗi cá thể và liều nhiễm khuẩn.
Tại các vùng bệnh tiêu chảy cấp xâm nhập lần đầu thường diễn biến rầm rộ, mọi người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, như trường hợp vụ dịch cuối năm 2007 tại Hà Nội. Ngược lại ở những vùng bệnh tiêu chảy cấp lan rộng thì trẻ em có tỷ lệ mắc cao nhất và thường kéo dài gây ra các vụ dịch tản phát. Trung bình thì sau vài giờ tới năm ngày bị nhiễm khuẩn, người bệnh sẽ có các biểu hiện lâm sàng dễ nhận thấy.
Triệu chứng rõ nhất là sôi bụng, đầy bụng, đi ngoài liên tục, phân lỏng không mùi, không mầu, ít đau bụng và phần lớn có mầu trắng nhờ như nước vo gạo. Có những trường hợp đi ngoài tới hàng chục lần trong một ngày với khối lượng mất nước hàng chục lít. Người bệnh bị nôn liên tục, lúc đầu ra thức ăn và sau đó là toàn nước. Nếu đi ngoài nhiều lần người bệnh sẽ bị mất nước và dẫn đến kiệt sức, lượng muối khoáng và pH trong máu suy giảm do cơ thể liên tục bị mất nước. Từ đó, người bệnh có thể bị co giật, hôn mê, không đo được mạch, huyết áp. Trường hợp nặng có thể làm bệnh nhân suy thận. Nếu không được bù nước và điện giải, chữa trị kịp thời và đúng cách thì có đến 50% cơ nguy tử vong, người bệnh có thể chết trong vòng vài giờ đồng hồ sau khi phát bệnh.
Phương thức chữa trị bệnh tả cũng khá đơn giản bằng biện pháp bù điện giải và nước với việc cho người bệnh nhận thêm chất lỏng và muối khoáng qua truyền dịch, hay chỉ ăn uống chất lỏng, nhẹ, phối hợp cùng sử dụng thuốc kháng sinh thích hợp.
Quan trọng nhất là giữ cho cơ thể người bệnh đừng mất quá nhiều nước. Rẻ tiền và dễ tìm nhất là cho người bệnh uống liên tục dung dịch nước nấu chín có pha thêm muối và đường hoặc dung dịch Orezol, một gói pha với một lít nước đun sôi để nguội. Có thể pha dịch thay thế: tám thìa nhỏ (thìa cà-phê) đường, một thìa nhỏ muối pha trong một lít nước; hoặc nước cháo 50g gạo và một nhúm (3,5g) muối hoặc nước dừa non có pha một nhúm muối. Nên cho uống theo nhu cầu. Nếu nôn nhiều nên uống từng ngụm nhỏ. Nếu bệnh tiến triển phải nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn và điều trị.
Cách phòng bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm trong đó có bệnh tả một cách hữu hiệu và đơn giản nhất là ăn chín, uống sôi và rửa tay thật kỹ bằng xà-phòng trước khi ăn uống, trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi vệ sinh hay chăm sóc người ốm.
Mọi loại thực phẩm cần phải được nấu chín để tiêu diệt phẩy khuẩn tả và các loại vi sinh vật gây bệnh khác. Nếu nguồn nước bị nhiễm vi khuẩn tả thì mọi thức ăn, nước uống, kể cả đá lạnh làm từ nước đó và ngay cả rau thịt đã rửa với loại nước đó đều có thể gây bệnh và làm bùng nổ dịch. Phân và chất thải của người bệnh phải được cô lập và xử lý, tiệt trùng bằng Cloramin B hoặc vôi bột, tuyệt đối không để phát tán vào môi trường.
Khi có các trường hợp tiêu chảy cấp xảy ra để bảo vệ cộng đồng khỏi dịch tả cần tuyên truyền cho nhân dân biết cách tự phòng bệnh như ăn chín, uống sôi, không ăn rau sống, tiết canh, nước đá, mắm ruốc, mắm tôm sống không rõ nguồn gốc, hải sản chưa nấu chín kỹ.
Hạn chế hội họp, hạn chế tập trung ăn uống đông người như ma chay, cưới xin, tổ chức tổng vệ sinh, thu gom rác, diệt ruồi.
Hướng dẫn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và xây dựng tập quán đi vệ sinh đúng nơi quy định, xử lý và sử dụng phân người hợp vệ sinh và phù hợp với tình hình địa phương.
Nghiêm cấm việc phóng uế bừa bãi, vận chuyển và sử dụng phân tươi để tưới rau, bón ruộng. Kiểm tra chặt chẽ các cửa hàng ăn uống, giải khát, đặc biệt là những nơi chế biến thức ăn, nhà máy nước để bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh công tác phòng, chống dịch tả.
Các nhà máy nước phải tăng lượng hóa chất clo để khử trùng nước sinh hoạt cho nhân dân. Chỉ dùng nước đã khử trùng clo hay đun sôi để uống. Nước ăn, nước rửa bát đĩa và các đồ đựng thực phẩm phải lấy từ nguồn nước đã khử trùng bằng clo.