Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác chặt chẽ, cùng có lợi, cùng thắng (*)

Như Báo Quảng Ninh đã đưa tin hội nghị lần thứ 3 của Ủy ban công tác liên hợp giữa 4 tỉnh của Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang với Khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây (Trung Quốc), vừa được tổ chức tại Hà Nội.

Tại hội nghị này, Trưởng Đoàn Quảng Ninh, đồng chí Nhữ Thị Hồng Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã có bài phát biểu. Bên cạnh đó, lãnh đạo ngành Du lịch Quảng Ninh và Bộ đội Biên phòng tỉnh đã có những tham luận nhằm làm rõ kết quả hợp tác của Ủy ban công tác liên hợp. Báo Quảng Ninh xin trích đăng các bài phát biểu này.

Quảng Ninh sẽ cụ thể hoá từng nội dung, tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện

(Bài phát biểu của đồng chí Nhữ Thị Hồng Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh)

a

Biên bản ghi nhớ của Uỷ ban Công tác liên hợp tại Nam Ninh năm 2009 đã được tích cực triển khai trên tất cả các nội dung, có những nội dung đã được triển khai hiệu quả.

Điển hình là hợp tác hỗ trợ các chương trình quảng bá, xúc tiến thương mại, du lịch và thu hút đầu tư; phối hợp thường xuyên tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu qua mỗi bên, nhất là tại các khu vực biên giới. Cùng nhau tăng cường, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá thông quan. Trao đổi tăng cường quản lý hoạt động lữ hành, tích cực triển khai tuyến du lịch đường biển Phòng Thành - Hạ Long. Tập trung huy động các nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực biên giới và giao thông vận tải như: xây mới và cải tạo nhà kiểm soát liên ngành cửa khẩu Hoành Mô, Móng Cái; đầu tư phương tiện trang thiết bị cho các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ, cải tạo và xây mới các chợ biên giới; đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo sớm hoàn thành trong năm nâng cấp tuyến đường Mông Dương – Móng Cái; đồng loạt khởi công xây dựng các tuyến đường quốc lộ đến cửa khẩu Hoành Mô, Bắc Phong Sinh; tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện khởi công xây dựng cầu Bắc Luân 2. Đặc biệt là hợp tác của cơ quan đài báo hai bên trong trao đổi chương trình về kinh tế xã hội; hợp tác chặt chẽ trong đấu tranh chống tội phạm nguy hiểm như: buôn bán vận chuyển tiêu thụ trái phép chất ma tuý, phụ nữ, trẻ em, truy bắt tội phạm...;

Những kết quả này đã góp phần tích cực trong tăng trưởng kinh tế của Quảng Ninh (8 tháng năm 2010 tăng 10,3% so với cùng kì), kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 19,3 % so với cùng kỳ và khách du lịch tăng 41% so với  cùng kỳ ; trật tự an ninh quốc phòng được giữ vững, ổn định.

Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại, hạn chế trong việc triển khai một số nội dung mới chỉ dừng ở mức độ tìm hiểu trao đổi, chưa có giải pháp thực hiện cụ thể như: hợp tác trong giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ. Một số nội dung triển khai chậm hoặc chưa triển khai như: khai thác tuyến du lịch đường biển chậm, chưa khôi phục cấp giấy thông hành cho khách du lịch từ Đông Hưng (Trung Quốc) qua cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam); chưa thực hiện việc kéo dài thời gian hoạt động tại các cửa khẩu để thông quan hàng hoá; các cặp cửa khẩu Bắc Phong Sinh - Lý Hỏa và Hoành Mô - Động Trung chưa thống nhất nâng cấp thành cửa khẩu chính. Hiện nay thu hút dự án đầu tư của Quảng Tây vào Quảng Ninh còn hạn chế.

Có thể thấy rằng những nội dung đã được ký kết trong các biên bản hợp tác lần thứ 2 là rất thiết thực và quan trọng trong tăng cường đẩy mạnh hợp tác phát triển toàn diện của mỗi bên. Tuy nhiên, qua kết quả đạt được của mỗi bên cho thấy việc tổ chức triển khai thực hiện chưa đạt được như mong muốn. Để Uỷ ban công tác liên hợp hoạt động thực sự có hiệu quả, đáp ứng được mong mỏi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với tinh thần: bổ sung ưu thế cho nhau, hợp tác cùng có lợi và cùng thắng, theo tôi cần tập trung xem xét thống nhất một số điểm:

1. Mỗi bên cần tăng cường chỉ đạo thực hiện để hoàn thành những nội dung triển khai còn chậm hoặc chưa triển khai.

2. Biên bản ghi nhớ của Uỷ ban công tác liên hợp là những định hướng cơ bản trong từng lĩnh vực, do đó hai bên cần phải thống nhất xây dựng kế hoạch triển khai của từng nội dung cụ thể với những giải pháp tích cực, cung cấp thông tin về tình hình triển khai để cùng nhau có biện pháp thực hiện đảm bảo đúng tiến độ.

3. Với những nội dung có tính chiến lược, quan trọng, hai bên cần tăng cường trao đổi, tổ chức hội thảo khoa học để đảm bảo tính khả thi trong triển khai thực hiện.

4. Trong thời gian tới, mỗi bên cần phải tiếp tục tập trung mọi nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng cho Khu vực biên giới và kết nối giao thông, tăng cường sự ủng hộ của Chính phủ về nguồn lực, cơ chế chính sách để có điều kiện thực hiện hiệu quả các thoả thuận hợp tác. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến những nội dung đã được ký kết của Uỷ ban công tác liên hợp đến cộng đồng dân doanh để thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển.

5. Cần hoàn thiện, đổi mới nâng cao hiệu hoạt động của Tổ thư ký, không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp báo cáo kết quả hàng năm mà phải thường xuyên nắm bắt tình hình thực hiện, báo cáo đề xuất các biện pháp kịp thời cho lãnh đạo mỗi bên để tăng cường chỉ đạo. Do vậy phải xây dựng quy chế làm việc cụ thể cho Tổ thư ký.

6. Lãnh đạo của các bên cần tạo điều kiện hơn nữa để các ngành, địa phương tăng cường giao lưu, đẩy mạnh hợp tác và chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển.

Với mong muốn góp sức vào thành công của Uỷ ban công tác liên hợp, Quảng Ninh sẽ cụ thể hoá từng nội dung, tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Chúng tôi đề nghị Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây tăng cường phối hợp để cùng thực hiện hiệu quả những nội dung đã ký kết. Chúng tôi cũng mong tiếp tục nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương.

Một lần nữa, với những kết quả đã đạt được sau hơn 2 năm thành lập, Uỷ ban công tác liên hợp đã thực sự khẳng định vai trò quan trọng, có ý nghĩa tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi bên và đẩy mạnh hợp tác phát triển toàn diện giữa các tỉnh, khu.

Du lịch Quảng Ninh - Quảng Tây: Kết quả hợp tác và những thành tựu mới

(Tham luận của đồng chí Trịnh Đăng Thanh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, thể thao và du lịch)

a

Trong một số năm gần đây, số lượng khách du lịch Trung Quốc đến với Quảng Ninh ngày càng tăng. Năm 2007 có 35 vạn khách, năm 2008 đạt 38 vạn khách, năm 2009 đạt 42 vạn và 9 tháng đầu năm 2010 đã đạt được 36 vạn lượt khách. Rõ ràng khách du lịch từ Trung Quốc đến Quảng Ninh (Việt Nam) năm sau cao hơn năm trước.

Do vậy, trong chiến lược khai thác thị trường, khách du lịch Trung Quốc được xác định là thị trường hàng đầu của Việt Nam và là thị trường số 1 của Quảng Ninh. Trung bình mỗi năm Quảng Ninh đón từ 35 đến 45 vạn khách du lịch Trung Quốc đến Hạ Long chủ yếu qua cửa khẩu Đông Hưng - Móng Cái, cửa khẩu đường biển và một phần đến từ các cửa khẩu khác qua Hà Nội, Lạng Sơn và Lào Cai. Đặc biệt trong đó có tuyến du lịch đường biển Bắc Hải – Hạ Long đã được ngành du lịch hai bên khai thác tốt và được đánh giá là tuyến du lịch " Vàng ". Ngoài ra các tuyến du lịch khác như Hồng Kong – Nam Ninh – Hạ Long, Hạ Long – Phòng Thành... đang được các bên khẩn trương đưa vào khai thác.

Mặt khác, thông qua cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng, lượng khách Việt Nam đến thăm Trung Quốc cũng tăng mạnh. Quảng Tây (Trung Quốc) là điểm đến hấp dẫn với người dân Quảng Ninh nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Mỗi năm có hàng chục nghìn du khách Việt Nam sang thăm quan Trung Quốc, phần lớn số lượng khách trên đi qua các cửa khẩu của Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc). Hàng ngày có trên dưới 1000 người Việt Nam qua lại cửa khẩu Đông Hưng, (Trung Quốc) - Móng Cái (Việt Nam) tham quan du lịch kết hợp với thương mại.

Trong điều kiện như vậy, rõ ràng là Quảng Ninh (Việt Nam)  và Quảng Tây (Trung Quốc) có bối cảnh thuận lợi và triển vọng tốt đẹp để mở rộng hợp tác phát triển du lịch. Hai tỉnh còn là điểm đầu và là cầu nối cho nhân dân hai nước  qua lại với nhau để tham quan du lịch, học tập, giao thương.

Đánh giá lại những việc làm trong thời gian qua của việc hợp tác phát triển du lịch theo Bản ghi nhớ tại Hội nghị lần thứ hai Uỷ ban công tác liên hợp, ngành du lịch Quảng Ninh  nhận thấy  đã làm được một số việc sau:

Thứ nhất, hai bên đã duy trì được các tuyến du lịch đã có  và đang phát triển thêm các tuyến du lịch mới như: Phòng Thành – Hạ Long, Hồng Kông – Nam Ninh – Hạ Long.

Thứ hai, về công tác tuyên truyền quảng bá, hai bên đã phối hợp tổ chức các cuộc xúc tiến, quảng bá tại Trung Quốc và tại Việt Nam. gần đây phía Trung Quốc đã tổ chức các đoàn báo chí, truyền hình đến Việt Nam tuyên truyền quảng bá cho các tuyến du lịch.

Thứ ba, cơ quan quản lý du lịch hai bên đã tích cực phối hợp đề ra các biện pháp phù hợp định hướng các doanh nghiệp du lịch tăng cường chất lượng phục vụ. Tháng 8 năm 2010, ngành du lịch Quảng Ninh đã cử đoàn công tác đến Quảng Tây làm việc với Cục du lịch Bắc Hải và Cục du lịch Phòng Thành về những vấn đề trên.

Thứ tư, về thủ tục xuất nhập cảnh, các cơ quan hữu quan của tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng đã có nhiều biện pháp tích cực, trang bị các thiết bị kỹ thuật hiện đại để giải quyết công tác duyệt nhân sự và cấp thông hành XNC một cách nhanh nhất. Đặc biệt, đối với tuyến du lịch đường biển Bắc Hải - Hạ Long, các ngành liên quan đã phối hợp nhịp nhàng đảm bảo cho khách du lịch nhập và xuất cảnh nhanh chóng, đảm bảo an toàn cho khách và phương tiện vận chuyển. ( Từ năm 2007 đến năm 2009 có tổng số 480 chuyến tàu và 216.309 lượt khách Trung Quốc từ Bắc Hải đến Hạ Long, Quảng Ninh).

Thứ năm, công tác xây dựng các tuyến du lịch và sản phẩm, dịch vụ mới. Đối với việc tổ chức cho loại hình du lịch  cho khách tự lái xe qua biên giới Việt – Trung, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đã thống nhất với các cơ quan chức năng chấp thuận cho khách tự lái xe vào tham quan trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Dịch vụ trên đã được các doanh nghiệp lữ hành của Việt Nam chào bán và giới thiệu cho các đối tác bên Trung Quốc. Việc phát triển tuyến du lịch mới từ  Trung Quốc sang Việt Nam cũng đã được các địa phương quan tâm và tập trung triển khai.

Thứ sáu, công tác hợp tác phát triển du lịch. Trong thời gian qua, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đã ký một số thảo thuận hợp tác phát triển du lịch như sau: Biên bản thảo thuận hợp tác phát triển du lịch giữa  5 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch của Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội với Cục Du lịch Quảng Tây vào tháng 3/2008, tại Bằng Tường, Quảng Tây. Biên bản thoả thuận hợp tác phát triển du lịch giữa  5 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội với Cục Du lịch Quảng Tây vào tháng 4-2008, tại thành phố Hạ Long.

Biên bản thoả thuận hợp tác phát triển thị trường du lịch giữa Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Quảng Ninh với Cục Du lịch Quảng Tây, Cục phát triển Du lịch Hồng Kông vào tháng 2/2009 tại Nam Ninh, Trung Quốc về việc mở tuyến du lịch Hồng Kông – Quảng Tây – Hà Nội – Quảng Ninh.

Qua các biên bản, thoả thuận hợp tác phát triẻn du lịch nói trên, cơ quan quản lý du lịch và các doanh nghiệp du lịch của hai bên đã đạt được sự thống nhất về quan điểm phát triển du lịch, xác định rõ lợi ích của Quảng Tây và lợi ích của Quảng Ninh có sự gắn bó khăng khít. Do đó, hai bên đã tích cực tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy du lịch của cả hai bên cùng phát triẻn cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên  còn một số tồn tại như sau: Tuyến đường biển Phòng Thành - Hạ Long vẫn chưa được khai thông trở lại. Lượng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái giảm mạnh. Một trong những nguyên nhân dẫn tới kết quả trên là do còn chưa thông thoáng trong việc cấp Giấy thông hành cho khách du lịch Trung Quốc xuất cảnh qua cửa khẩu Móng Cái.Tuyến đường bộ Móng Cái - Hạ Long đi lại chưa thuận lợi làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch của hai bên. Một số tour, tuyến du lịch chưa hấp dẫn khách du lịch, chất lượng dịch vụ chưa đạt yêu cầu do vãn còn tồn tại sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch của cả hai bên.

Chúng tôi xin đề xuất kiến nghị một số việc sau: Cơ quan quản lý du lịch của hai tỉnh tiếp tục có những thỏa thuận trong công tác phối kết hợp quản lý hoạt động du lịch biên giới. Tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp Giấy thông hành cho khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam tham quan du lịch qua cửa khẩu Móng Cái – Đông Hưng.

Có cơ chế thư­ờng xuyên trao đổi thông tin và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh. Đảm bảo an toàn cho khách du lịch các bên. Đặc biệt trong việc quản lý hoạt động du lịch biên giới tại khu vực cửa khẩu Móng Cái – Đông Hưng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý chất lượng du lịch tại khu vực này.

Có các giải pháp nhằm nâng cao chất l­ượng dịch vụ du lịch và hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực.

Cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong công tác tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch, giúp nhau quảng bá hình ảnh của mỗi bên tại địa phư­ơng và trong  đất nước mình, xây dựng các ấn phẩm quảng bá cho các tuyến du lịch.

Với những kết quả đã đạt được và để tiếp tục tạo điều kiện cho ngành du lịch hai bên phát triển, đề nghị lãnh đạo hai địa phương tiếp tục tạo điều kiện cho ngành du lịch của hai bên hợp tác trao đổi thông tin tháo gỡ vướng mắc và khó khăn, trong đó đặc biệt là công tác quảng bá xúc tiến, phát triển sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực. Đồng thời có những chính sách thông thoáng trong việc cấp giấy thông hành cho công dân hai nước qua lại.

Tăng cường giao lưu, gặp gỡ, tạo mỗi quan hệ đoàn kết, giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển

(Tham luận của đồng chí Nguyễn Quang Đạm, Chỉ huy Trưởng BĐBP tỉnh)

a

Tỉnh Quảng Ninh có đường biên giới đất liền và trên biển tiếp giáp với Trung Quốc, với vị trí địa lý thuận lợi và cư dân hai bên biên giới có mối quan hệ dân tộc, thân tộc, dòng họ... từ lâu đời, đặc biệt là tình hữu nghị truyền thống trong mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc... do vậy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế thương mại, du lịch hai bên biên giới, đồng thời cũng là nơi các loại tội phạm lợi dụng hoạt động.

Trong những năm qua, tình hình hoạt động của các loại tội phạm qua lại hai bên biên giới tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam và Quảng Tây, Trung Quốc diễn biến phức tạp, đa dạng, tính chất ngày càng nguy hiểm; số lượng tội phạm diễn biến có chiều hướng gia tăng; phạm vi tội phạm hoạt động mở rộng qua lại hai bên biên giới, địa bàn biên phòng và nội địa của Việt Nam và Trung Quốc. Nổi lên các loại tội phạm như: Ma túy, buôn bán người, vũ khí, vật liệu nổ, tiền giả, buôn lậu, trộm cắp, cướp tài sản... Đặc biệt hoạt động của tội phạm buôn bán ma túy, buôn bán người có chiều hướng gia tăng.

Từ năm 2009 đến nay, BĐBP bắt xử lý tổng số 552 vụ/1.351 đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam có liên quan đến hai bên biên giới. Trong đó, xử lý hình sự: 91 vụ/358 đối tượng. Vật chứng thu giữ từ các vụ án: 36.940.000 VNĐ và 200NDT giả; 42.000 tấn than cám; 2.800 kg pháo nổ; 7.556,987 gam hêrroin, 25.710 viên ma túy tổng hợp, 1.141,444 gam ketamine và 1.695,7 gam tiền chất ma túy, 15.820 đĩa hình đồi trụy, 3 khẩu súng ngắn, 45 viên đạn súng ngắn, 330.000 NDT, 110.000 USD, giải cứu 30 nạn nhân là phụ nữ và trẻ em.


Tội phạm thường lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở hẻo lánh, đường mòn biên giới, vùng biển; lợi dụng cơ chế chính sách kinh tế, thương mại, du lịch, dịch vụ, thăm thân và các mối quan hệ hai bên biên giới để hoạt động, có sự câu kết chặt chẽ trong và ngoài biên giới, tổ chức thành các ổ nhóm, đường dây, phân chia theo từng công đoạn... các hoạt động thường được chuẩn bị rất kỹ trước khi thực hiện tội phạm. Chúng thường lấy khu vực biên giới làm địa bàn trung gian để thực hiện tội phạm, khi bị phát hiện truy đuổi thường vượt biên giới hoặc vào nội địa để lấn trốn. Chúng thường sử dụng các phương tiện kỹ thuật, thiết bị thông tin hiện đại để theo dõi hoạt động của các lực lượng chức năng nhằm đối phó.

Xuất phát từ tình hình hoạt động của tội phạm, trong hai năm qua các đơn vị BĐBP Quảng Ninh đã phối hợp với các lực lượng công an, BĐBP của tỉnh Quảng Tây trong công tác phòng, chống tội phạm. Hai bên đã tăng cường hơn trong trao đổi tình hình liên quan. Trong thời gian qua tình hình người vượt biên trái phép gia tăng, Tổng đội CABP Quảng Tây đã chủ động trao đổi, thống nhất biện pháp giải quyết, nên tình hình đã giảm nhiều. Trao đổi tình hình liên quan đến an ninh trật tự khu vực biên giới, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm qua biên giới, các đơn vị cơ sở của BĐBP Quảng Ninh và Tổng đội CABP Quảng Tây định kỳ mỗi tháng gặp gỡ giao ban trao đổi tình hình, phối hợp giải quyết các vụ việc xảy ra có liên quan đến 2 bên biên giới và phối hợp chặt chẽ trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, ngăn chặn người xuất nhập cảnh trái phép nói riêng; đặc biệt đã thiệt lập các đường dây nóng giữa các đơn vị của 2 bên, kịp thời thông báo và trao đổi những vấn đề liên quan mà 2 bên đều quan tâm để phối hợp giải quyết.

Các đơn vị BĐBP Quảng Ninh đã phối hợp với các đơn vị CABP Quảng Tây trao đổi và phối hợp điều tra nhiều nguồn tin có liên quan đến hoạt động của tội phạm hai bên biên giới; trong đó đã phối hợp điều tra có hiệu quả 2 vụ công dân Trung Quốc vi phạm pháp luật Việt Nam, 1 vụ công dân Việt Nam cư trú  trái phép ở Trung Quốc lừa gạt phụ nữ, trẻ em Việt Nam sang Trung Quốc để bán và phối hợp giải cứu 13 phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị lừa bán sang Trung Quốc.

Các đơn vị BĐBP Quảng Ninh trao trả cho Trạm KTBP Đông Hưng và Trạm KTBG Đồng Tông, Trung Quốc 8 vụ với 12 đối tượng là công dân Trung Quốc vi phạm pháp luật Việt Nam. Các đơn vị Tổng đội CA BP Quảng Tây đã trao cho các đơn vị BĐBP Quảng Ninh 365 người Việt Nam, trong đó có 341 người nhập cảnh trái phép, 23 người bị nạn trên biển, 1 đối tượng phạm tội buôn bán người và 13 phụ nữ, trẻ em bị lừa bán sang Trung Quốc.

Phát huy kết quả đã đạt được, để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới, hai bên cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho quần chúng nhân dân mỗi nước hiểu hiệp ước, các hiệp định về biên giới mà Chính phủ hai nước đã ký; tôn trọng tập quán quốc tế và pháp luật mỗi bên; tăng cường công tác trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong đấu tranh với các loại tội phạm liên quan đến hai bên biên giới và tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt nâng cao hiệu quả phối hợp trong các chuyên án, vụ án; thông báo và duy trì việc trao trả công dân của mỗi nước theo thỏa thuận; tăng cường giao lưu, gặp gỡ để hiểu nhau hơn, tạo mỗi quan hệ đoàn kết, hữu nghị, thẳng thắn, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau và đều cầu thị trong giải quyết, xử lý các vấn đề trên biên giới, đảm bảo an ninh trật tự khu vực biên giới, giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

(*) Đầu đề do Báo Quảng Ninh đặt

Cùng chuyên mục