Nghề sản xuất gốm sứ ở huyện Đông Triều tính đến nay đã có lịch sử gần 200 năm. Cùng với những thăng trầm của thời gian, dòng gốm sứ này được biết đến với những đặc tính riêng biệt về kiểu dáng, đường nét hoa văn, chất men và mang tính mỹ thuật độc đáo...
Sản xuất gốm sứ ở xã Đức Chính chủ yếu vẫn là thủ công.
Khác với suy nghĩ của chúng tôi trước khi đến Đức Chính, hình ảnh một làng nghề sản xuất gốm sứ trứ danh với đâu đâu cũng là chậu, bình... gần như đã không còn. Ông ứng Đình Tuấn, cán bộ UBND xã Đức Chính cho biết: Nếu như trước đây, gốm sứ Đông Thành nức tiếng một vùng, nhà nhà làm gốm sứ, người người làm gốm sứ thì nay nghề này cứ mai một dần. Không sống được với nghề nên nhiều gia đình đành ngậm ngùi bỏ nghề, tìm hướng làm ăn mới có hiệu quả hơn. Chỉ cách đây khoảng 5 năm, trên địa bàn xã vẫn còn khoảng 19 hộ làm gốm sứ, đến nay chỉ có 5 hộ là duy trì được thường xuyên, tuy nhiên, số lượng sản phẩm sản xuất ra chỉ ở mức cầm chừng. Muốn có thị trường thì phải cải tiến công nghệ chứ không thể cứ thủ công toàn phần như hiện nay được. Thế nhưng, người sản xuất chẳng mấy mặn mà với việc này vì thiếu vốn và cũng vì tư duy cũ bao đời khó thay đổi.
Việc đốt lò thủ công đã được người dân Đức Chính duy trì từ nhiều đời nay. Để sản xuất, trước đây một hộ gia đình phải bỏ ra số tiền hàng trăm triệu đồng để đầu tư xây dựng các lò đốt. Đây là một số tiền rất lớn đối với các hộ gia đình vùng nông thôn. Chính vì vậy, mặc dù phần nào nhận thức được tầm quan trọng của việc đầu tư công nghệ vào sản xuất nhưng cũng hiếm có hộ gia đình nào mạnh dạn vay số tiền hàng tỷ đồng để đổi mới công nghệ. Ngay đến HTX Đông Thành, một cơ sở sản xuất sản phẩm gốm sứ lớn nhất xã hiện vẫn duy trì đốt lò thủ công. Gia đình anh Khuất Quang Trường, thôn 5, làm nghề sản xuất gốm sứ hơn 11 năm nay ở xã Đức Chính, vào dịp cao điểm có thể đỏ lửa đốt lò 5-6 đợt/ tháng, sản phẩm làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Thế nhưng đó là chuyện cách đây gần chục năm. Anh Trường cho biết: Bây giờ có cố gắng lắm thì một tháng cũng chỉ đốt được 3 lần vì sản xuất ra cũng không tiêu thụ hết được, hàng để tồn thì lỗ to. Mức thu nhập bình quân của người thợ ở đây khá thấp khoảng 600.000-800.000 đồng/tháng. Hàng làm ra tiêu thụ chậm, lãi lời chẳng là bao vì giá thành nguyên liệu quá đắt đỏ, vậy nhưng chẳng bỏ được. Sản phẩm, mẫu mã ít được cải tiến nên càng ngày tiêu thụ càng chậm. Trong khi thị trường bây giờ đòi hỏi hàng hoá phải tinh xảo, bắt mắt. Biết là thế nhưng đành làm theo kiểu thủ công cầm chừng thế này, được đến đâu hay đến đó.
Không riêng gì anh Trường, nhiều hộ gia đình sản xuất gốm sứ ở Đức Chính cũng đang lâm vào cảnh “bỏ thì thương, vương thì tội” chỉ vì thiếu vốn đầu tư cho công nghệ nên cứ quẩn quanh giải bài toán tìm đầu ra cho sản phẩm mãi không xong. Nhiều thông tin về hỗ trợ vốn phát triển công nghệ tại làng nghề vẫn chưa đến được với người dân do nhiều lý do khách quan và chủ quan.
Vẫn biết để thay đổi những thói quen sản xuất truyền thống kém hiệu quả bằng công nghệ máy móc hiện đại không phải chuyện trong một sớm một chiều. Thế nhưng, nếu các cấp, ngành, đặc biệt là các địa phương không dành những sự quan tâm hơn cho các làng nghề thì không chỉ có gốm Đông Thành nổi tiếng một thời mà còn có rất nhiều làng nghề khác cũng sẽ dần đi vào quên lãng trong tương lai gần.