Cầu mùa là một sinh hoạt tín ngưỡng tồn tại trong đời sống của nhiều dân tộc sinh sống trên đất nước ta, gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời. Theo các tư liệu lịch sử ghi chép lại thì ngay từ thời Hùng Vương, lễ cầu mùa đã được các Vua Hùng tổ chức đều đặn hàng năm với những nghi lễ hết sức trang trọng.
Thực chất của lễ hội cầu mùa chính là sự bày tỏ ước muốn của nhân dân cầu xin thần linh, tổ tiên phù hộ cho một mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở, nhà nhà được no ấm. ở Việt Nam, một số lễ cầu mùa tiêu biểu đã được biết tới như lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở Cao Bằng, Lạng Sơn, lễ cúng cơm mới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên...
ở Quảng Ninh, tín ngưỡng cầu mùa cho tới nay vẫn tồn tại trong một số dân tộc, ở một số địa phương. Điển hình như là lễ cầu mùa của đồng bào Sán Chỉ, xã Đại Dực (Tiên Yên). Khác với các lễ cầu mùa khác, đồng bào Sán Chỉ ở xã Đại Dực chỉ tổ chức lễ cầu mùa khi năm ấy trong bản gặp mất mùa, đói kém, trâu, bò, lợn, gà... bị dịch chết nhiều. Ngày tổ chức lễ cầu mùa được chọn là ngày tốt và được tổ chức đơn giản. Chiều ngày hôm đó, mọi người trong bản cùng bắt tay vào sửa soạn chuẩn bị các công việc cho lễ cúng sẽ diễn ra vào đêm cho tới gần sáng hôm sau. Lễ vật cúng thần, thổ công, tổ tiên thường gồm có thủ lợn, chân giò lợn (hoặc gà), xôi nếp, rượu trắng được bày trên bàn thờ, phía sau bàn thờ được dán các hình nộm bằng giấy là bông lúa, chùm quả, con vật tượng trưng cho những điều cầu xin thần linh, tổ tiên. Người đảm trách việc cúng lễ là ông mo trong bản, có thêm 4-5 người nữa giúp việc như đánh thanh la, thổi kèn và các việc vặt khác. Nội dung các bài cúng bày tỏ lòng thành của dân bản cầu mong tổ tiên, thổ công, các vị thần linh phù hộ cho lúa tốt đầy nương, gia súc, gia cầm khoẻ mạnh, sinh sôi. Xen kẽ các bài cúng, mọi người cùng ca hát, nhảy múa vui vẻ cho tới gần sáng thì lễ cầu mùa kết thúc.
Trong khi đó thì với người Dao ở xã Bằng Cả (Hoành Bồ), lễ cầu mùa thường được gắn liền với ngày hội của làng, được tổ chức vào ngày 1-2 âm lịch hàng năm. Hôm ấy, mỗi chủ hộ có một đại diện tập trung đến nhà trưởng bản, góp 1 con gà (hoặc số tiền tương ứng), làm cỗ để trưởng bản cúng Bàn Vương, tổ tiên phù hộ cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Lễ cúng thường kéo dài từ giữa buổi sáng cho tới 1-2 giờ chiều mới xong, sau đó mọi người cùng ăn uống vui vẻ. Ngoài lễ chung của làng, các gia đình cũng còn tổ chức lễ cầu mùa tại nhà, gọi là lễ cúng cơm mới, tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng tốt tươi. Cơm mới ở đây là những bông lúa được lấy đầu tiên từ ruộng về. Chủ nhà đứng nghiêm trang trước bàn thờ, kể lại công ơn của tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho mùa sau tiếp tục được bội thu. Cúng xong, cả nhà ngồi ăn uống với nhau, chủ gia đình ăn trước khắp lượt mỗi món một miếng rồi vợ con mới bắt đầu ăn. Cuối bữa, mỗi người cố ý để thừa một ít cơm và rau và hôm ấy không được rửa bát với ngụ ý sau này cơm gạo sẽ thừa thãi. Hôm cúng cơm mới, theo phong tục của người Dao, người ngoài, kể cả bà con họ hàng thân thích, cũng không được vào nhà.
Đó là ở đồng bào vùng cao, với người Kinh thì sao? Trước đây, ở vùng Hà Nam (Yên Hưng) lễ hội cầu mùa cũng được tổ chức hàng năm trước mỗi vụ mùa tại các làng Cốc (nay là hai xã Phong Cốc, Phong Hải), làng Vị Dương (xã Liên Vị), làng Lưu Khê (xã Liên Hoà)... với những nghi lễ trang trọng. Tuy nhiên, bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, chia lại ruộng đất và một số lý do khác nữa nên lễ hội cầu mùa của các địa phương đã bị mai một dần. Nhận thấy đây là một sinh hoạt văn hoá mang nhiều giá trị, ý nghĩa nên vừa qua Sở Văn hoá - Thông tin phối hợp với Viện Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hoá - Thông tin), UBND huyện Yên Hưng và chính quyền, nhân dân hai xã Phong Cốc, Phong Hải tổ chức phục dựng lại Lễ hội Xuống đồng- thực chất là lễ hội cầu mùa, diễn ra vào hai ngày 23 và 24-7 tại chính nơi tổ chức lễ hội khi xưa là đình Cốc, xã Phong Cốc. Ngày lễ chính, từ sáng sớm, ông chủ tế vào đình thắp hương, dâng lễ vật thỉnh cáo Thần Nông và Thành hoàng làng. Tiếp đó, ông chủ tế đi ra thửa ruộng trước đình, trên đó đã dựng sẵn cây nêu có treo hình nộm các bông lúa, cá, tôm bằng giấy. Lễ cúng được bày trên 1 chiếc bàn nhỏ ngay tại ruộng gồm có gạo nếp, thịt lợn sống, rượu trắng. Ông chủ tế kính cẩn thắp hương khấn xin Thần Nông, Thành hoàng làng phù hộ cho dân làng có một mùa màng bội thu, vạn vật tốt tươi. Tiếp đó, ông cầm búi mạ cấy những cây lúa đầu tiên xuống ruộng, sau nghi thức này dân làng mới được xuống đồng cấy lúa, (chính vì thế mới có tên gọi lễ hội xuống đồng mà thực chất là lễ hội cầu mùa). So với các lễ cầu mùa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh, lễ hội xuống đồng ở Hà Nam thường được tổ chức kèm theo phần hội rất quy mô. Trọng tâm là cuộc đua thuyền chải của nam và nữ giữa các xóm trong làng (nay là hai xã) rất sôi nổi. Bên cạnh phục hồi nguyên trạng lễ hội xưa, thì lễ hội xuống đồng năm nay còn có thêm nét mới, đó là cuộc thi cấy của các cô gái đại diện các xóm của hai xã diễn ra vô cùng lý thú và hấp dẫn...
Với mục đích bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, trong đó có những lễ hội cầu mùa trên, những năm qua Sở Văn hoá - Thông tin đã phối hợp với các cơ quan của Trung ương và chính quyền, nhân dân các địa phương xây dựng, triển khai các đề tài khoa học, phục hồi lại các lễ hội cầu mùa nhằm khơi lại các nét văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc, từng bước xây dựng thành các sản phẩm du lịch, góp phần vào phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương...