Từ xa xưa hát giao duyên đã là sinh hoạt không thể thiếu trong ngày tết, ngày hội của vùng vịnh và là cách ướm hỏi, tỏ tình của những đôi trai gái trên sông nước, đặc biệt trở thành tục lệ đẹp trong đám cưới của dân chài lưới.
Theo tài liệu của Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, thực chất hát giao duyên của dân chài Vịnh Hạ Long là lối hát đối đáp giữa nam và nữ với nhiều hình thức, giọng điệu khác nhau. Cuộc hát có thể diễn ra trên bờ trong các dịp hội hè hoặc diễn ra trên biển, giữa các thuyền bên nam và bên nữ khi họ đi hái củi hoặc đi đánh hà, bắt ngán. ở vùng Vịnh Hạ Long hiện còn các hình thức hát giao duyên nổi bật như hát đúm, hò biển và hát cưới trên thuyền.
Hát đúm còn gọi là hát ghẹo, hát trai gái, có giai điệu gần như một lối ngâm thơ, âm vực thấp, quãng hẹp, trường độ dài ngắn tuỳ vào hứng hoặc hơi của người hát. Giống như nhiều điệu hát giao duyên khác, hát đúm bắt buộc phải qua các trình tự hát chào, hát hỏi, hát tìm, hát gặp. Đầu tiên khi người con trai muốn hát với người con gái phải cất lời xin phép, bởi bên gái còn có chủ thuyền, cha mẹ hoặc người lớn tuổi, có thể coi đây là lời chào. Hát tìm thường thông qua những hiểu biết về tên làng, xóm, quê hương để nói lên tình cảm tha thiết mong muốn gặp người con gái. Khi người con gái cảm nhận tấm chân tình của người con trai, cuộc thử sức thử tài bắt đầu, đó là lúc cất điệu hát hỏi. Hát hỏi giúp trai gái hiểu rõ về nhau hơn, quen nhau, gần nhau hơn, thậm chí có thể trở thành bạn tình. Sau giai đoạn này những lời hát gặp đằm thắm, riêng tư được cất lên. Cái hay của hát đúm chủ yếu được thể hiện trong ý tứ, lời ca. Đó chính là những bài ca dao thể thơ sáu tám, chủ đề về tình yêu nam nữ, sự ứng biến nhanh nhạy, có thể đối đáp. Tuy nhiên, người hát cũng phải thuộc ít nhiều bài hát có sẵn (do truyền khẩu) và luật chơi. Trong khi hát có thể sáng tạo những ca khúc mới. Hát đúm còn tồn tại nhiều ở vùng đảo Hà Nam (Yên Hưng). Vào dịp đầu xuân nhất là hội miếu Tiên Công, hội Xuống đồng Phong Cốc, trai gái Hà Nam lại rộn ràng hát với nhau, người dân Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) cũng chèo thuyền sang đua tài. Hội hát, nếu bên nào thua sẽ bị bên thắng lột khăn hoặc giữ chặt lấy tay không cho đi đến khi hát giảng được thì thôi.
Nếu như hát đúm ưa lối hát chậm rãi song cụ thể, nhiều khi quyết liệt bạn hát chưa đáp được nhất quyết chưa được về hoặc nếu tan cuộc cũng phải để lại vật làm tin thì hát hò biển lại thịnh tính mềm mại, sâu lắng. Hò biển còn gọi là hát chèo thuyền, hát chèo đường, hát ví, hát véo... Gọi hát chèo đường không phải là điệu hát chèo mà là điệu hát khi đi đường, đi biển. Mở đầu là các câu ơ... hò... cao vút, ngân nga, rồi luyến láy liên tiếp, cho ta cảm giác như nhấn một nhịp chèo trong không gian tĩnh lặng của trời nước. Bối cảnh hát hò biển đặc biệt lãng mạn trong những đêm thanh vắng, chèo thuyền một mình, quãng đường dài... người dân chài buông những lời hò tự sự, vừa là đánh tiếng, vừa cho đỡ buồn, đỡ đơn độc thậm chí đỡ buồn ngủ. Theo anh Cao Đức Bình, cán bộ Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, người có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về hát giao duyên của dân chài Hạ Long, hò biển không phải là điệu hò trong lao động mà là điệu hò khi nghỉ ngơi, khi chờ đợi. Hò biển thích hợp hơn cả với đặc trưng dân chài Vịnh Hạ Long, khi mỗi gia đình, mỗi người là một chiếc thuyền trên sông nước mênh mông, tiếng hò vang ngân dài ẩn giấu lời tỏ tình bóng bẩy. Nếu hợp cảnh, hợp tình thì hát hỏi, hát đáp, thử tài thử tình nhau cho đến trắng đêm. Chính vì vậy hát giao duyên trên biển bao giờ cũng là điệu hát say đắm nhất. Nó càng say đắm hơn khi người dân chài chỉ quen nhau, thân thiết với nhau, nên vợ nên chồng với nhau qua giọng hò câu hát. Hò biển trở thành phương tiện giao lưu, thành nhu cầu tình cảm với đủ các cung bậc tình yêu, từ kín đáo, đến duyên dáng, chân tình thuỷ chung, lại có cả ghen tuông, giận hờn, chua ngoa...
Hát cưới trên thuyền thì lại khác hơn cả, ở đây có chút gì đó mang tính hình thức, giống như một tục lệ, nghi thức phải có khi rước dâu về nhà. Thực ra hát đám cưới có ở hầu hết các dân tộc vùng núi, đồng bằng, miền biển, song cách hát mỗi nơi mỗi khác. Riêng kiểu hát đám cưới của ngư dân Vân Đồn rất độc đáo, đó là cách hát đối có đã hoa, thường gọi là hát cưới trên thuyền. Theo đề án sưu tầm, nghiên cứu hát giao duyên của Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, một cuộc hát cưới trên thuyền của cư dân chài Vịnh Hạ Long thường được tổ chức vào ngày rằm trong mùa cưới (từ tháng tám năm trước đến tháng ba năm sau). Những đêm này trăng sáng, cá ăn tãi, dân chài thường nghỉ đánh bắt. Trong không gian lung linh trăng nước, nhà trai đến đón dâu bằng nhiều thuyền lớn, nhà gái cũng neo đậu thuyền sát nhau. Cả bên nhà trai và bên nhà gái đều có đội hát, cuộc hát bắt đầu bằng hát dậy gánh, chánh sứ. Sau nhiều câu đối đáp nếu nhà trai thắng sẽ được lên thuyền thưa chuyện, nhà trai thua vẫn được lên thuyền song phải có tiền phong bao. Cuộc hát quan trọng nhất là hát ngõ hoa, đây là cửa cuối cùng để đón được cô dâu lên thuyền. Cuộc hát này thường diễn ra lâu, là cơ hội cho mọi người cùng vui chơi, hò hát, thi thố tài năng. Nhiều khi cuộc hát kéo dài thâu đêm suốt sáng, thậm chí vài ngày. Có khi nhà trai không thể hát thắng phải đi mời thầy hát mới được đón dâu về. Có thể nói hát cưới trên thuyền của dân chài Hạ Long là một hội hát giao duyên tập trung hầu hết các điệu hát giao duyên vùng biển. Bởi vậy hát cưới trên thuyền rất đa dạng, phong phú về cả ngôn từ lẫn kiểu cách hát.
Hát giao duyên dân chài Hạ Long là nét đẹp văn hoá truyền thống, chứa đựng kho tàng khổng lồ về cao dao, dân ca, phong tục tập quán và lễ hội. Thế nhưng ngày nay loại hình hát này lớp trẻ không thích hát, các nghệ nhân còn lại rất ít. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng quan tâm đầu tư sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu song nghệ thuật hát giao duyên vẫn đang dần mai một. Đây là một điều đáng để chúng ta suy nghĩ.