Tinh vi như quảng cáo thuốc

Nếu có 2 loại thuốc hạ cholesterol, một loại giảm 42% nguy cơ tử vong cho bệnh nhân tim, còn thuốc kia chỉ giảm 3,5%. Chắc chắn 100% bệnh nhân sẽ chọn loại thứ nhất. Nhưng họ sẽ phản ứng thế nào nếu biết cả 2 loại thuốc trên thực tế chỉ là một. Sự khác nhau quá lớn giữa 42% và 3,5 % chỉ là do cách nhà sản xuất thông tin nhằm gây ấn tượng với người dùng thuốc.

42% và 3,5%

Loại thuốc được nhắc đến trong ví dụ trên đây là Zocor. Không ai phủ nhận tác dụng của loại dược phẩm này trong việc phòng chống các bệnh tim mạch. Chỉ có điều, nó có thực sự giảm đến 42% tử vong do bệnh tim như nhà sản xuất quảng cáo hay không thì còn phải xem xét. Con số 42% này được rút ra từ một nghiên cứu với hai nhóm bệnh nhân tim mạch. Trong nhóm thứ nhất gồm 2.221 người dùng Zocor thì chỉ có 111 trường hợp chết vì bệnh. Còn ở nhóm còn lại 2.223 người dùng giả dược thì số tử vong là 189. Như vậy, số tử vong trong nhóm dùng Zocor ít hơn so với nhóm không dùng là 42%.

Nhưng nếu xem xét một cách khác, thì tỷ lệ tử vong trong nhóm dùng giả dược là 8,5%, còn trong nhóm dùng Zocor là 5%. Như vậy, nói về lợi ích tuyệt đối thì việc dùng Zocor chỉ làm giảm 3,5% tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch. Cả hai kết quả trên đều đúng, nhưng tại sao nhà sản xuất lại chọn con số 42% trong các quảng cáo. Đơn giản là vì con số này tác động đến người bệnh nhiều hơn.

Một nửa sự thật

Trường hợp của Zocor chỉ là một trong hàng nghìn ví dụ mà các cơ sở nghiên cứu y học, các hãng bào chế dược công bố thông tin về công trình hay sản phẩm của mình để định hướng người tiêu dùng theo cách mà họ muốn. Để đạt được mục tiêu này, họ sẽ lựa chọn cái gì nên công bố và cái gì không, cái gì nên nhấn mạnh và cái gì chỉ đề cập qua loa để đối phó với nhà chức trách. Và trong nhiều trường hợp, những thông tin không được công bố hoặc chỉ được đề cập sơ sài lại chính là những điều mà người dùng thuốc cần biết nhất: tác dụng không mong muốn của các phương pháp điều trị.

Đối với nhà sản xuất, việc tạo ra được một dược phẩm hạ cholescolor hoặc làm giảm kích thước khối u là một thành công. Nhưng đối với bệnh nhân, thành công thực sự của một phương pháp điều trị là nó có giúp họ sống lâu hơn, sống tốt hơn hay không. Một ví dụ cụ thể là liệu pháp hormon thay thế. Những người đề xuất phương pháp này ca ngợi khả năng tăng cholestorol tốt, giảm nguy cơ các bệnh tim mạch của nó. Nhưng trên thực tế, hormone thay thế đồng thời làm tăng khả năng hình thành huyết khối, một nguyên nhân gây ra các biến chứng tim mạch nguy hiểm.

Cách người ta tiến hành để lấy thông tin cũng là điều đáng bàn. Rất nhiều hãng dược dùng giả dược (placebo) làm đối chứng trong các thử nghiệm, thay vì chọn một loại thuốc cùng tính năng đã có trên thị trường. Đó là vì so sánh với giả dược (các chất bất hoạt về mặt hóa học, được làm giống hệt như thuốc thật mà nó thay thế) thường cho kết quả ấn tượng hơn.