Năm 2009 tập thể CBCN-LĐ ngành Than lại lập được một kỷ lục mới trên con đường phát triển của mình: khai thác 44,5 triệu tấn than nguyên khai; tiêu thụ 43,5 triệu tấn, trong đó xuất khẩu 24 triệu tấn; doanh thu đạt 57.500 tỷ đồng.
Đây là những con số vô cùng ý nghĩa chào mừng 15 năm (1994) ngày thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và 170 năm (1840) ngày Vua Minh Mạng phê chuẩn thỉnh cầu của Tổng đốc Hải An Tôn Thất Bật xin cho phép được khai thác than tại vùng Đông Triều, đồng thời góp phần không nhỏ vào xây dựng và phát triển Vùng mỏ Quảng Ninh.
Bóc xúc đất đá tại khai trường Công ty CP Than Cao Sơn - TKV.
Khi nói tới sự đổi thay của Vùng mỏ, đặc biệt là những người thợ đã từng sống và làm việc nơi đây trước những năm 1990 ít ai có thể hình dung được nó lại nhanh và mạnh đến vậy. Nhiều “làng mỏ, phố mỏ”, khu đô thị ngành Than mọc lên khang trang, hiện đại. Công nhân đi làm có xe ca đưa đón và trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ, các khu vực sản xuất trên khai trường thường xuyên được tưới nước, phun sương dập bụi. Các đơn vị khai thác hầm lò đều đã xây nhà tắm nước nóng và giặt sấy quần áo BHLĐ, ủng đi lò. Một số đơn vị còn đầu tư, đưa vào vận hành hệ thống vận chuyển người và thiết bị xuống lò bằng cáp vô tận (mỏ Khe Chàm) và monoray (mỏ Hà Lầm, Nam Mẫu) để rút ngắn thời gian di chuyển đầu ca và cuối ca, giảm bớt nỗi vất vả của người thợ khi phải đi bộ vào nơi làm việc. Bữa ăn giữa ca nóng sốt, đủ dinh dưỡng. Bầu không khí trong lò giờ cũng trong lành hơn, vì hệ thống thông gió được đầu tư tốt hơn. Không gian cũng đỡ chật chội, vì hệ thống chống gỗ giờ được thay bằng các loại giá, cột thuỷ lực. Lao động người thợ nhờ cơ giới hoá nên cũng đỡ phần nào nặng nhọc. Đến nay, hầu hết các đơn vị đều đã có sân vận động, nhà thi đấu, nhà sinh hoạt văn hoá thể thao, văn hoá công nhân có sức chứa từ 1.000 đến 4.000 người cùng hệ thống các câu lạc bộ, thư viện... Hiện TKV và tỉnh Quảng Ninh đang khảo sát và đề nghị Chính phủ cho Tập đoàn được làm chủ đầu tư (50% vốn nhà nước, 50% vốn doanh nghiệp) xây dựng tuyến đường cao tốc Hạ Long - Móng Cái có quy mô từ 4 đến 6 làn xe (rộng từ 25-27 mét) với vận tốc thiết kế từ 100-120km/h. Việc đưa tuyến đường này vào sử dụng không chỉ thúc đẩy KT-XH của Quảng Ninh phát triển mà còn tạo điều kiện cho các tỉnh thành trong khu vực.
Mười lăm năm qua ngành Than luôn có những bứt phá ngoạn mục trong sản xuất kinh doanh, sản lượng than thương phẩm tăng trưởng bình quân 12%/năm. Nếu như những năm đầu sản lượng than chỉ mới hơn 5 triệu tấn/năm, đời sống công nhân mỏ vô cùng khó khăn, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng thì chỉ 3 năm sau ngành Than đã đưa sản lượng đạt trên 10 triệu tấn; năm 2003 sản lượng đạt 16 triệu tấn, năm 2004 đạt 25 triệu tấn, năm 2005 đạt 31 triệu tấn, năm 2007 đạt 41 triệu tấn. Năm 2009 mặc dù còn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng TKV vẫn khai thác được 44,5 triệu tấn than nguyên khai; bóc xúc 197 triệu m3 đất đá; đào 325km lò; sản xuất 39 triệu tấn than sạch; tiêu thụ 43,5 triệu tấn, trong đó xuất khẩu 24 triệu tấn, tăng 32% so với năm 2008, tăng 7,1 lần so với năm 1994. Hoạt động kinh doanh đa ngành của TKV được xoay quanh công nghiệp mỏ để tạo ra các chuỗi giá trị gia tăng: khai thác than gắn liền với đầu tư, xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than nhiệt lượng thấp, đầu tư hóa than (hóa than thành amoniac, axitnitric để sản xuất nitrat amon). TKV cũng phát triển các mỏ khoáng sản kim loại gắn với xây dựng các nhà máy luyện kim và các xưởng hóa chất đi kèm; khai thác các mỏ khoáng sản phi kim như đá vôi, đất sét, phụ gia để sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng; đẩy mạnh sản xuất cung ứng vật liệu nổ công nghiệp; phát triển ngành cơ khí theo hướng chế tạo máy mỏ, phương tiện vận tải thủy, lắp ráp xe tải nặng, xe chuyên dùng; không ngừng phát triển dịch vụ địa chất, khoa học công nghệ, tư vấn đầu tư, thương mại, du lịch, hàng hải; tăng cường xây lắp công trình mỏ, luyện kim, dịch vụ môi trường, đầu tư bất động sản, nhất là việc phát triển nhà ở cho công nhân và cơ sở vật chất, kỹ thuật của tập đoàn. Trong đó sản xuất than chiếm 59,6% trị giá toàn ngành.
Có thể nói những giải pháp lớn giúp TKV đứng vững và phát triển trong thời gian vừa qua chính là đã phát huy được truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” luôn vượt khó đi lên của thợ mỏ, biến nó thành sức mạnh vật chất để đương đầu và vượt qua thử thách, chớp lấy cơ hội phát triển. Chủ động đề đạt với các cơ quan quản lý Nhà nước và địa phương về các chủ trương, mục tiêu chiến lược; tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế. Có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý tạo ra sân chơi công bằng và động lực phát triển cho các doanh nghiệp thành viên; thực hiện tốt việc khoán sản phẩm cộng với quản lý chí phí; đề cao trách nhiệm cá nhân. Tổ chức một cách sáng tạo các phong trào thi đua yêu nước.
Từ khi chuyển sang hoạt động theo mô hình tập đoàn (2005), đến nay TKV đã thực hiện xong việc sắp xếp lại tổ chức của tập đoàn, đồng thời thông qua “Định hướng chiến lược phát triển Tập đoàn trong giai đoạn 2006-2015 tầm nhìn đến 2025”. Theo đó, Tập đoàn xác định kinh doanh đa ngành, đa nghề nhưng dựa trên nền tảng vững chắc của tài nguyên, khoáng sản; phát triển nguồn nhân lực có tri thức, sáng tạo, chuyên nghiệp và lao động với năng suất cao; thành lập mô hình quản trị kinh doanh thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập trên cơ sở bền vững. Phấn đấu trở thành tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam sau năm 2015 và trở thành tập đoàn xuyên quốc gia đủ mạnh vào năm 2025. Để chuẩn bị cho những bước đi trên, ngoài việc đầu tư hiện đại hoá công nghệ khai thác than, dây chuyền bốc rót tại nhà máy tuyển than, cảng bến, mở các mỏ khai thác than mới, TKV đang đẩy mạnh xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than, các dự án công nghiệp nhôm ở Tây Nguyên và ven biển miền Trung; đẩy mạnh thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản kim loại đồng, chì, kẽm, crôm, thiếc, mangan ở một số vùng của nước ta như Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và ở cả nước bạn Campuchia, Lào. Ngoài ra TKV cũng đang chuẩn bị để đầu tư thử nghiệm công nghệ khí hoá than dưới lòng đất tại vùng than Đồng bằng Bắc Bộ...
Làm mỏ chứa đựng nhiều rủi ro, nguy hiểm, nặng nhọc, khó khăn trước mắt còn nhiều và chắc sẽ không ít phức tạp nhưng tin rằng thợ mỏ sẽ vượt qua và tiến tới một tương lai tươi sáng góp phần xứng đáng trong sự nghiệp phát triển đất nước, phát triển Quảng Ninh giàu mạnh.