Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua thứ ba của vương triều Trần. Ông là người có công lớn trong việc lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh bại cuộc xâm lăng lần thứ hai và thứ ba của quân Nguyên Mông và làm cho quốc gia trở lên hùng mạnh.

Đối với Phật giáo Việt Nam, Trần Nhân Tông có một vị trí đặc biệt. Ông là người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm, một tông phái đạo Phật mang tính dân tộc sâu sắc và biến Yên Tử, thánh địa của thiền phái trở nên bất tử trong lịch sử phát triển Phật giáo dân tộc.

Năm 1294, một năm sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, Trần Nhân Tông quyết định xuất gia ở Vũ Lâm (Ninh Bình). Năm 1299 Trần Nhân Tông đến núi Yên Tử đi tu, lấy pháp hiệu là Điều Ngự giác hoàng, siêng năng tu hành mười hai hạng đầu đà và bắt đầu thuyết pháp. Dòng thiền do Trần Nhân Tông sáng lập được đặt tên theo đặc điểm của núi rừng Yên Tử là những rừng trúc bạt ngàn: Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Trúc Lâm có nguồn gốc xa xôi do Bồ Đề Đạt Ma (trụ trì chùa Thiếu Lâm - Trung Quốc) sáng lập. Tuy vậy, Trần Nhân Tông đã kế thừa và tiếp thu tinh hoa từ phật giáo đại thừa ấn Độ và phật giáo thiền tông Trung Hoa để tạo ra một dòng thiền mới; phát huy những yếu tố tích cực của đạo phật và mang màu sắc dân tộc. Tư tưởng cơ bản của dòng thiền Trúc Lâm là đạo không xa lánh thế tục, đạo và đời bổ sung cho nhau, học đạo để hoàn thiện con người và nếu con người đã được giác ngộ thì Phật ở trong Tâm (phật tại tâm), con người chính là Phật.

Giáo phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập là một sáng tạo Việt Nam trên cơ sở Thiền Tông. Thừa hưởng tinh thần thiền học thời Lý lấy tâm truyền tâm, không dùng văn tự. Đồng thời dòng thiền cũng là sự kế tục và phát triển những tư tưởng của vị vua khai sáng nhà Trần, Trần Thái Tông (ông nội Trần Nhân Tông) với các tác phẩm phật giáo như Khoá hư lục, Niệm pháp phật và Tuệ Trung thượng sĩ (bác Trần Nhân Tông) với tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục. Vượt qua giáo lý luân hồi thông thường của phật giáo, dòng thiền chủ trương đốn ngộ bằng cách từ bỏ dục vọng, với tấm lòng thanh thoát thì chính đó là cõi Niết Bàn.

Thuyết lý của tông phái Trúc Lâm không kêu gọi các tín đồ lìa bỏ cuộc sống trần tục, ép xác khổ hạnh mà có tính chất điều hoà, đề cao nhân nghĩa, khuyến khích thật thà, giáo dục lòng nhân đạo, không phân biệt giàu sang. Đặc biệt nhấn mạnh người giàu phải thương kẻ khó, khi hiển vinh phải nhớ lúc gian nan và luôn nhớ về cội nguồn của mình.

Nhằm tuyên truyền giáo lý của mình, thượng hoàng kiêm giáo chủ Trần Nhân Tông đã trực tiếp ở Yên Tử và đi nhiều nơi khác thuyết pháp, ngài đã giảng kinh Vô Lượng cho hàng nghìn người. Điều khác biệt giữa Trần Nhân Tông với các giáo chủ khác là ngài không mở các cuộc thuyết pháp có tính chất biện luận và tranh luận để thuyết phục người nghe theo mình bỏ đạo khác; Trần Nhân Tông đăng đàn giảng kinh cho mọi người nghe mà không cần khuyến dụ ai cả. Ông đã đưa đạo Phật thời Trần nhập thế, không xa xôi không huyền vi, và trở thành một tông phái độc lập, mang tính dân tộc sâu sắc.

Trong quá trình tu hành tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã cho xây dựng nhiều công trình phật giáo tại đây, biến Yên Tử trở thành một quần thể kiến trúc trang hoàng và quan trọng nhất, nhiều chùa tháp trong hệ thống Trúc Lâm như Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm, Phổ Minh cũng hết sức lộng lẫy.

Là một nhà vua anh minh, ông tổ của Thiền phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông cũng là một nhà thơ tài năng, Những quan điểm và tư tưởng của Trần Nhân Tông về đạo và đời được thể hiện rõ trong Cư trần lạc đạo phú (Bài phú ở cõi trần vui lẽ đạo), một trong những tác phẩm phú Nôm sớm nhất thời Lý - Trần (trích)

Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân.

Học đạo nhờ thầy, dọt sương óc chưa thông quả báo.

...

Ở cõi đời bụi, vui với lẽ đạo cứ để tuỳ duyên,

Đói thì ta ăn, mệt thì ta ngủ.

Trong nhà có của báu, đừng tìm ở đâu đâu,

Đứng trước cảnh mà vô tâm, tự khắc có Phật, sao phải hỏi Thiền.

Sau khi Trần Nhân Tông viên tịch, Pháp Loa và Huyền Quang tiếp tục lãnh đạo tăng gia. Tuy nhiên, sau sự ra đi của ba vị tổ Trúc Lâm, địa vị của tông Trúc Lâm nói riêng và phật giáo Việt Nam đã có những suy vi nhất định. Đến thời Lê Trung Hưng (Lê mạt) nhà sư Chân Nguyên là người có công lớn trong việc chấn hưng thiền phái Trúc Lâm.

(Viết theo: Mười bốn vị hoàng đế nhà Trần; Hợp tuyển văn học Việt Nam; Địa chí Quảng Ninh và các tài liệu Phật giáo)

Cùng chuyên mục