Trên nấc thang mới

Sau khi Chính phủ có Nghị quyết 05 (2005) về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động y tế, giáo dục, TDTT... cùng với việc đẩy mạnh thực hiện một số chủ trương về cải cách tài chính công (quy định các Nghị định 10, 43), việc phát triển các đơn vị, các hoạt động giáo dục, y tế ngoài công lập ở Quảng Ninh đã phát triển ở nấc thang mới; tuy nhiên, trong sự phát triển ấy cũng đặt ra không ít trăn trở...

Trên nấc thang mới ảnh 1
Bằng hình thức liên doanh, liên kết, Bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh đã thu hút được nhiều nguồn đầu tư để mua sắm các trang thiết bị y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh. (Trong ảnh: Bác sĩ Khoa Hồi sức cấp cứu đang sử dụng máy chạy thận nhân tạo - một thiết bị y tế đắt tiền để điều trị cho bệnh nhân).
                                                                           Ảnh: Trung Luận
 

Từ năm 2005 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có thêm nhiều cơ sở giáo dục ngoài công lập, như thành lập mới 1 trường dạy nghề tư thục, 6 trường THPT, 3 trường mầm non tư thục, 259 lớp mẫu giáo, 174 nhóm trẻ ngoài công lập... Những cơ sở này đã góp phần giải quyết cho hàng vạn học sinh đi học, giảm tải gánh nặng cho các trường công lập. Tổng vốn đầu tư xây dựng và mua thiết bị dạy học cho các trường, lớp ngoài công lập là 124,5 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho các trường THPT chiếm phần lớn (112,7 tỷ đồng). Bên cạnh đó, 100% các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đều có hệ đào tạo tự cân đối tài chính, theo hướng mở rộng các ngành nghề phục vụ nhu cầu xã hội. Đáng chú ý, UBND tỉnh đã chỉ đạo và phê duyệt đề án chuyển đổi một số trường công lập sang mô hình ngoài công lập (Trường mầm non Hạ Long, Trường mầm non Cẩm Thịnh...); Trường THPT Hòn Gai thí điểm chuyển thành cơ sở cung ứng dịch vụ chất lượng cao. Đặc biệt, nếu trước đây nhiều nhà đầu tư chọn thành lập khối trường THPT thì từ 2005 đến nay khu vực dạy nghề thu hút sự chú ý hơn. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 25 trường và cơ sở có hoạt động dạy nghề. Chỉ tính riêng năm 2006, kinh phí đầu tư cho dạy nghề của các nhà đầu tư đã chiếm tới 80% tổng số kinh phí dạy nghề của năm (150/174 tỷ đồng).

Với giáo dục thì như vậy, còn với đầu tư cho phát triển y tế ngoài công lập, do đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cũng như nguồn vốn lớn, nên có vẻ kém sôi động hơn. Tuy nhiên, hơn 2 năm qua cũng ghi nhiều dấu ấn mới, trong đó, việc liên kết giữa các cơ sở y tế công lập với nhiều nhà đầu tư để đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế đắt tiền, kỹ thuật cao là nổi trội. Ví dụ như đã có 17 đơn vị y tế thực hiện mô hình liên kết đặt trang thiết bị y tế với nhiều công ty và đã thu hút trên 52 tỷ đồng đầu tư. Cụ thể như Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã liên kết lắp đặt 1 máy siêu âm màu 4 chiều, 10 máy chạy thận nhân tạo, 1 máy nội soi tai-mũi-họng; 1 máy XQ tăng sáng truyền hình, 1 máy siêu âm mắt... Bệnh viện Bãi Cháy liên kết lắp đặt 1 máy CT scanner, 1 hệ thống chụp XQ kỹ thuật số... Bệnh viện Đa khoa khu vực Cẩm Phả liên kết lắp đặt 1 máy CT scanner, 1 máy xét nghiệm tế bào máu tự động... Nhiều bệnh viện hợp đồng với các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành ở trung ương để định kỳ về khám chữa bệnh cho bệnh nhân trong tỉnh, nên tạo khá nhiều thuận lợi cho người hưởng dịch vụ; nâng cao tay nghề cho đội ngũ bác sĩ, y tá của địa phương. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1023 cơ sở hành nghề y dược tư nhân, gồm 433 cơ sở hành nghề y, 257 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 333 cơ sở dược.

Theo ghi nhận ý kiến của nhiều người hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, những kết quả trên là đáng mừng, song cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất cập, trong đó nổi lên 2 vấn đề chính: một là cơ chế chính sách, hành lang pháp lý để khuyến khích các nguồn lực ngoài xã hội đầu tư còn nhiều hạn chế; hai là chất lượng giáo dục, y tế mà các cơ sở ngoài công lập cung cấp liệu có thực sự đảm bảo, chí ít là được như hệ thống công lập? Theo một báo cáo của Sở KH-ĐT, những hạn chế trong thực hiện xã hội hoá hoạt động giáo dục, y tế trên địa bàn tỉnh hiện là: trong GD-ĐT, các trường ngoài công lập mới phát triển về số lượng, công tác quản lý và chất lượng giáo dục còn hạn chế; các trường ngoài công lập mới giải quyết nhu cầu là có chỗ học tập, chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo chất lượng cao; chưa có chính sách tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các trường công lập với ngoài công lập; cơ chế chính sách hỗ trợ cho dạy nghề chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư; chưa có chính sách và biện pháp đồng bộ để tạo môi trường và điều kiện phát triển hệ thống ngoài công lập... Trong lĩnh vực y tế, việc phát triển y tế ngoài công lập chưa đồng đều giữa các vùng, miền; huy động nguồn lực đầu tư còn hạn chế, đặc biệt là về tài chính và nhân lực. Trong khi đó còn có quá nhiều bất cập từ cơ chế chính sách, gây khó khăn cho các cơ sở y tế ngoài công lập cũng như những đơn vị công lập muốn mở rộng hoạt động ngoài công lập, nhưng lại chưa được tự chủ toàn phần cả tài chính và nhân lực... Tiến sĩ Nguyễn Tuệ Anh, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), sau khi khảo sát thực trạng vấn đề này ở Quảng Ninh, nhận xét: Thực tế nhiều năm qua, Quảng Ninh cũng giống như cả nước, nguồn vốn đầu tư cho phát triển ngoài công lập ở giáo dục và y tế chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn đầu tư từ xã hội. Nguyên  nhân chính là do giáo dục, y tế là hai lĩnh vực có nhiều rủi ro, lợi nhuận kinh tế đặt sau lợi ích về an sinh, xã hội nên không hấp dẫn nhà đầu tư... Theo tiến sĩ Tuệ Anh, tới đây những bất cập như đã nêu sẽ được giải quyết từ Trung ương, với việc có thể sẽ có nghị định mới qui định chuyên sâu hơn nữa về cơ chế chính sách để chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế thực sự là đòn bẩy kích thích mọi nguồn lực trong nhân dân...

Cơ chế chính sách cần phải kịp thời, rõ ràng
(Ông Vũ Xuân Diện, Giám đốc Bệnh viện Bãi Cháy)

Tôi thấy rằng, chủ trương xã hội hoá các hoạt động y tế, giáo dục là hết sức đúng, nó mang lại lợi ích cho nhân dân từ việc thu hút các nguồn lực xã hội để mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, tiến trình xã hội hoá thời gian qua diễn ra còn chậm chưa đáp ứng mong mỏi của nhà nước và nhân dân. Nguyên nhân có nhiều, song tôi cho rằng nhiều cơ chế chính sách của nhà nước chưa kịp thời, nhiều điểm không rõ ràng, chậm có văn bản hướng dẫn, vẫn không thoát khỏi cảnh ''Luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, thông tư chờ hướng dẫn'' khiến chúng tôi thực thi rất khó. Ví dụ như Nghị định 69 về chính sách khuyến khích các hoạt động xã hội hoá y tế, giáo dục, văn hoá... đã có hơn 5 tháng nay, mà bây giờ vẫn chưa có thông tư hướng dẫn để thực hiện...

Vì giáo dục và y tế là lĩnh vực quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, đến cả thế hệ tương lai nên mỗi địa phương cần có những nghiên cứu kỹ, có lộ trình và phải thực hiện đồng bộ. Trong đó, vốn đầu tư cho lĩnh vực này ở nhà nước hiện vẫn còn thấp. Thêm nữa, chúng ta không thể phát triển ào ạt các cơ sở y tế giáo dục mà thiếu định hướng, thiếu quản lý chặt chẽ, thiếu khung tiêu chuẩn cho phép. Vì có khi chỉ cần một sai sót nhỏ trong điều trị, kê đơn thuốc cũng mang lại hậu quả khó lường cho người bệnh và xã hội.
 
Vẫn phải chỉnh sửa cơ chế chính sách để kích cầu
(Ông Nguyễn Hồng Hạnh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh)

 
Có chế khuyến khích để tăng đầu tư, qua đó kích cầu của người hưởng dịch vụ theo tôi là giải pháp tốt. Ví dụ như trước đây Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP Hồ Chí Minh) được nhà nước cấp ngân sách 20 tỷ đồng để duy trì 500 giường bệnh/năm. Để phát triển hơn, bệnh viện đề xuất một số cơ chế chính sách nhằm đẩy mạnh đầu tư, mở rộng các loại hình dịch vụ phục vụ nhân dân, đến nay 1 năm thu khoảng 280 tỷ đồng và không nhận ngân sách. Bên cạnh đó, chúng ta nên xác định lại bản chất hoạt động của lĩnh vực y tế công và tư để có chiến lược đầu tư hay ban hành cơ chế chính sách. Ví dụ: ở đơn vị y tế tư nhân chủ yếu khám chữa bệnh ngoại trú, họ không đào tạo nhân lực, họ chọn bệnh nhân để chữa và chi phí cho đảm bảo vệ sinh môi trường cũng chỉ ở mức độ vừa phải; đó là chưa nói đến chất lượng dịch vụ có đảm bảo không, loại thuốc cho bệnh nhân uống ra sao?... Những điều họ không chọn thì dồn vào khu vực y tế công, nơi mà còn nhiều bất cập về chế độ tiền lương, tự chủ tài chính nhưng chưa tự chủ nhân lực, bảo hiểm y tế thanh toán ở mức thấp...

Để xã hội hoá tốt, trước hết thuộc về sự năng động của các đơn vị y tế công. Các đơn vị đã có sẵn đội ngũ bác sĩ thì hãy tăng cường liên doanh, liên kết với doanh nghiệp để cùng đầu tư trang thiết bị, đáp ứng đủ nhu cầu cho nhân dân; các bệnh viện nên hợp đồng với các bác sĩ, quản lý giỏi đang công tác trong ngành hoặc về hưu nhưng còn sức khoẻ để họ đóng góp cho việc chẩn đoán, khám chữa bệnh, qua đó đội ngũ của mình cũng được tăng cường về chuyên môn; các cơ chế khác như mức đóng bảo hiểm y tế, ưu đãi thuế cho lĩnh vực y tế ngoài công lập trong đơn vị công lập cũng cần được xem xét, hướng dẫn thoả đáng để kích thích nguồn lực đầu tư cả về chất xám, nhân lực và cơ sở vật chất...
 
Các cơ sở ngoài công lập cần được hưởng quyền lợi như công lập
(Ông Nguyễn Văn Tuấn, bộ phận ngoài công lập, Sở GD-ĐT)

Để phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập, nhà nước và tỉnh đã có một số chính sách, cơ chế ưu đãi, tuy nhiên nhìn chung vẫn chưa đảm bảo được công bằng giữa 2 loại hình công lập và ngoài công lập. Các đơn vị ngoài công lập của tỉnh vẫn chưa có nguồn tuyển sinh ổn định, mới chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận những học sinh không đủ điều kiện vào công lập, nên chất lượng đầu vào, số học sinh không ổn định. Giáo viên ngoài công lập chưa được hưởng chế độ thu hút, ưu đãi nhân tài (QĐ 2871 của UBND tỉnh); các cơ sở ngoài công lập chưa được hưởng lợi từ những dự án đầu tư cho giáo dục như hệ thống công lập. Bên cạnh đó, hệ thống ngoài công lập gặp rất nhiều khó khăn về thuế TNDN, GTGT, phải GPMB; việc ưu đãi trong vay vốn tín dụng của nhà nước để mở rộng hoạt động được rất ít so với nhu cầu... Tôi cho rằng để đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá giáo dục, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ nhà đầu tư xây dựng mô hình ngoài công lập cần có nhiều nỗ lực từ mọi phía. Trước hết tôi xin kiến nghị một số vấn đề cần quan tâm: cần có hướng dẫn cụ thể chi tiết về trình tự, thủ tục để được hưởng ưu đãi của nhà nước; cần có qui chế cụ thể, rõ ràng về cơ chế tuyển sinh của các trường công lập và dân lập. Theo đó, tôi cho rằng trường công lập chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu học tập cho con em diện chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, còn lại nên có tuyển sinh công bằng giữa hai hệ thống. Nhà nước cần ban hành đầy đủ, đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn thực hiện như chế độ học phí, vấn đề sở hữu trong cơ sở ngoài công lập, phân phối thu nhập, chế độ chính sách đối với giáo viên...

Cùng chuyên mục