Như tin đã đưa, theo chương trình làm việc, trong buổi chiều ngày 28-9 và sáng qua 29-9, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII tiến hành thảo luận tại hội trường về văn kiện của Đảng bộ tỉnh và dự thảo các văn kiện của Trung ương. Đã có 10 trong tổng số 37 bản tham luận được các đại biểu trình bày tại Đại hội. Báo Quảng Ninh trích đăng một số bài tham luận.
Phát huy cao nhất sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
(Đồng chí Nguyễn Chí Thăng, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh)
5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, của BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh; đồng thời quán triệt tư tưởng đại hội X của Đảng về “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ các cấp đoàn thể nhân dân phù hợp với chức năng, tôn chỉ, mục đích hoạt động của từng tổ chức; hướng về cơ sở; khắc phục tình trạng hành chính hoá, xa dân, phô trương, hình thức”, hoạt động của MTTQ các cấp tỉnh Quảng Ninh đã không ngừng đổi mới toàn diện cả nội dung, hình thức và phương thức. Qua đó đã phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò của MTTQ trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là sớm đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015, đòi hỏi các cấp uỷ đảng, cấp chính quyền MTTQ, các tổ chức thành viên phải nghiêm túc quán triệt đầy đủ, sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp sau:
Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế, xã hội tới các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tầng lớp nhân dân nhằm xây dựng, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong tình hình mới. Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của Đảng, chính quyền đối với MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước do MTTQ phát động trong các tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện các mục tiêu, phương hướng mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra. Đặc biệt là bổ sung nội dung cuộc vận động toàn dân “Xây dựng nông thôn mới”, “Xây dựng đô thị văn minh”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” v.v..
Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội của MTTQ thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, các Hội đồng tư vấn của Uỷ ban MTTQ các cấp.
Thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường bổ sung đội ngũ cán bộ chuyên trách MTTQ các cấp (nhất là cơ quan chuyên trách MTTQ cấp huyện), mở rộng đội ngũ cộng tác viên (không chuyên trách); tạo điều kiện kinh phí cho MTTQ (nhất là cấp cơ sở, khu dân cư) hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các thành viên.
Quan tâm xây dựng, nhân rộng nông thôn mới
(Đồng chí Lê Xuân Tặng, Bí thư Huyện uỷ Yên Hưng)
...Xây dựng, nhân rộng mô hình nông thôn mới là một trong các nội dung quan trọng được đề cập trong Báo cáo Chính trị của Đảng bộ tỉnh. Về vấn đề này, tôi xin được tham luận với một số nội dung như sau:
Trước hết, chúng ta cần thống nhất nhận thức về vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mặc dù Quảng Ninh là tỉnh có tỷ lệ dân số sống tại các đô thị vào loại cao của cả nước, nhưng hiện nay dân số sống tại các vùng nông thôn chiếm gần 50% dân số của tỉnh, tức là trên nửa triệu người. Trong đó lực lượng lao động trong các ngành nông lâm, ngư nghiệp chiếm trên 40% số lao động trong độ tuổi, đóng góp khoảng 5,6% GDP của toàn tỉnh. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Nghị quyết T.Ư 7, khoá X, trong những năm vừa qua trên toàn địa bàn tỉnh, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển, đời sống nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông, hệ thống đê biển, trường học, trạm y tế, các công trình nước sạch, vệ sinh môi trường, các thiết chế văn hoá… được đầu tư lớn. Các ngành nghề dịch vụ, thương mại ở khu vực nông thôn được mở rộng, đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và đời sống nông dân. Kinh tế hợp tác tuy quy mô sản xuất còn nhỏ, hoạt động còn khó khăn song đã góp phần tạo việc làm cho khoảng 20% lao động và đóng góp 3,5% GDP toàn tỉnh. Công tác xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là ở nông thôn, các vùng khó khăn được quan tâm thực hiện hiệu quả, kịp thời. Các giá trị văn hoá tiêu biểu cho các vùng miền được bảo tồn, phát huy. An ninh nông thôn được giữ vững. Hệ thống chính trị được kiện toàn, hiệu quả hoạt động nâng lên, dân chủ được mở rộng.
Góp phần vào những thành tựu chung của toàn tỉnh, những năm vừa qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Yên Hưng đã có nhiều cố gắng trong phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Kinh tế của huyện duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,8%, tổng mức đầu tư xã hội trên địa bàn tăng bình quân 35,1%/năm, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 18 đề ra. Đến nay, trên 80% diện tích gieo trồng đã được tưới tiêu chủ động; 80% hộ dân ở nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 100% các xã có điện sinh hoạt, 100% các xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 86,6% thôn, xóm có nhà văn hoá, 18/19 xã, thị trấn có khu vui chơi cho thanh thiếu nhi, tỷ lệ hộ nghèo còn 2,8%, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 10%... Kinh tế khu vực nông thôn ổn định, đời sống nông dân nhiều mặt được cải thiện. An ninh nông thôn, an ninh tôn giáo đảm bảo.
Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh và chưa đồng đều giữa các vùng, miền. Hiện nay đời sống của một bộ phận dân cư nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo nhìn chung còn nhiều khó khăn. Khoảng cách phát triển giữa các đô thị với nhiều vùng nông thôn còn lớn. Tình hình an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, vấn đề đơn thư khiếu kiện ở một số địa bàn nông thôn vẫn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, vấn đề việc làm, vấn đề chất lượng cuộc sống, mức độ thụ hưởng các dịch vụ xã hội, nạn ô nhiễm môi trường… đang là những vấn đề cần tập trung giải quyết.
Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới cần quan tâm đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, nhân rộng mô hình nông thôn mới với một số giải pháp trọng tâm: Tiếp tục quán triệt đầy đủ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Coi trọng công tác khảo sát, đánh giá đầy đủ, toàn diện hiện trạng của các vùng nông thôn trong toàn tỉnh. Huy động tốt các nguồn lực đầu tư, phát huy hiệu quả các dự án trên địa bàn trong đó, lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình đầu tư... Phát triển kinh tế phải luôn đi đôi với phát triển văn hoá, bảo tồn các giá trị truyền thống và giải quyết các vấn đề xã hội. Quan tâm làm tốt công tác củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Phát triển toàn diện và mạnh mẽ giáo dục, đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong những năm tới
(Đồng chí Đỗ Văn Thuấn, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo)
...Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, ngành Giáo dục và Đào tạo đã có những bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, góp phần đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh và đất nước. Bên cạnh đó công tác phát triển Giáo dục - Đào tạo hiện nay còn những khó khăn, bất cập, hạn chế. Để ngành phát triển toàn diện, để giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh được rèn luyện tốt hơn, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tôi xin đề xuất những nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới:
Phát triển giáo dục mầm non về mạng lưới trường, lớp, cơ sở vật chất; đội ngũ giáo viên, phục vụ; thực hiện chương trình mầm non mới; tăng tỷ lệ huy động trẻ đến lớp và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng để đạt mục tiêu phổ cập trẻ em 5 tuổi vào năm 2012 (sớm hơn so với mục tiêu chung của cả nước 3 năm) theo Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015 của Thủ tướng Chính phủ.
Mở rộng nhiệm vụ dạy nghề cho thanh niên ở các Trung tâm HN&GDTX cấp huyện và trung tâm học tập cộng đồng ở cấp xã. Phối hợp việc giáo dục và đào tạo giữa các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp và CĐ, ĐH để tạo cơ hội thuận lợi nhất cho mọi đối tượng, mọi lứa tuổi đều được học tập, bồi dưỡng khi cần thiết, đáp ứng sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trường, xây dựng một xã hội học tập có hiệu quả cao.
Tiếp tục củng cố, mở rộng, nâng cao, điều chỉnh cơ cấu giáo dục chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học để đáp ứng đủ nguồn nhân lực có chất lượng cao, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một tỉnh động lực bằng việc mở các ngành nghề đào tạo mới còn thiếu, nâng cấp các trường đào tạo, thu hút và tăng cường liên kết quốc tế, khu vực để thu hút các trường đại học lớn đặt cơ sở đào tạo ở Quảng Ninh.
Thực hiện đổi mới tư duy quản lý về giáo dục, coi quản lý chất lượng là mục tiêu và cũng là giải pháp cơ bản. Phân cấp rõ ràng giữa ngành và địa phương, phân cấp quyền tự chủ cho các nhà trường và cơ sở giáo dục về công tác tài chính và từng bước phân cấp về nhân sự. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học.
Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá bằng việc triển khai thực hiện đề án “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu mới”.
Tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đặc biệt là việc xây dựng Trường THPT chuyên Hạ Long và các trường có chất lượng cao; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục đại trà, đặc biệt là hỗ trợ các trường ở vùng khó khăn, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc, các trường ngoài công lập; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho vùng đồng bào của hệ thống trường dân tộc nội trú; tranh thủ các nguồn lực để tập trung đầu tư, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ, phấn đấu xây dựng hệ thống trường học và cơ sở giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá ngang tầm quốc gia và khu vực…
Phối hợp với các đơn vị kinh tế trên địa bàn chăm lo phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xây dựng hệ thống chính trị
(Đồng chí Nguyễn Như Hiền, Bí thư Thị uỷ Cẩm Phả)
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ và nhân dân TX Cẩm Phả đã thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt cao, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển ổn định. Có được những kết quả trên là nhờ tập trung chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi của tỉnh và thị xã để các đơn vị kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, tham gia đầu tư, giải quyết các vấn đề văn hoá - xã hội của địa phương. Các đơn vị ngành Than trên địa bàn tiếp tục có bước phát triển mới, mở rộng thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của địa phương. Thị xã đã tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai các dự án xi măng, nhiệt điện, vật liệu xây dựng... Những dự án này đã và góp phần rất lớn cung cấp điện phục vụ nền kinh tế quốc dân, giảm tải cho việc thiếu điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, đồng thời thúc đẩy cho thị xã phát triển về nhiều mặt.
Trong 5 năm các đơn vị kinh tế trên địa bàn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho hoạt động văn hoá - xã hội, xoá nhà tạm, hỗ trợ gia đình khó khăn, đỡ đầu con em gia đình chính sách, hỗ trợ đào tạo nghề, thu hút con em và lao động, đầu tư xây dựng nhà văn hoá - thể thao, giúp đỡ người tàn tật, người già cô đơn, mất sức lao động, trẻ em mồ côi, quỹ người nghèo. Nhờ đó đã có trên 25.000 lao động được tạo việc làm; có trên 5.000 lượt hộ được vay vốn giải quyết việc làm, bình quân gần 20 tỷ đồng mỗi năm từ các chương trình, các nguồn vốn vay cho các đối tượng chính sách, thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công đã góp phần không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của thị xã giảm xuống còn 0,62% và đã hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát.
Các doanh nghiệp cùng với địa phương đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho công tác hoàn nguyên môi trường tại các bãi thải, công trường, xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải qua các khu dân cư, các tuyến đường vận chuyển than chuyên dùng, hạn chế thấp nhất việc vận tải than, đất đá lưu thông trong các tuyến đường nội thị; trồng hàng triệu cây xanh tại các công trường, bãi thải, khu dân cư; đầu tư xây dựng công viên, quảng trường, khu đô thị - du lịch - thương mại... Thị xã đã thực hiện việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn cơ bản đảm bảo yêu cầu; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong việc chấp hành pháp luật về môi trường...
Đặc biệt là phối kết hợp với các đảng bộ doanh nghiệp ngành Than trong công tác quản lý đảng viên... Sự phối hợp tích cực và hiệu quả đó đã giúp cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị và khu dân cư. Đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp được tăng cường và phát huy, nhân dân tin tưởng, phấn khởi, tạo thế và lực mới để thị xã phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới...
Phát triển bền vững ngành Than gắn với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh *
(Đồng chí Bùi Văn Khích, Bí thư Đảng uỷ Than Quảng Ninh)
...Sự ổn định, phát triển của ngành Than do nhiều yếu tố chi phối, trong đó, yếu tố hết sức quan trọng, không thể thiếu được là sự phối hợp chỉ đạo, tạo điều kiện của chính quyền, nhân dân địa phương đối với các đơn vị thành viên của ngành Than, nơi đơn vị có hoạt động SXKD ở đó.
Thực tế trong những năm qua, chính quyền và nhân dân địa phương Quảng Ninh đã phối hợp chỉ đạo, tạo điều kiện có hiệu quả tốt để ngành Than phát triển bền vững, nhất là trong những giai đoạn ngành Than gặp những khó khăn, thách thức to lớn trong quá trình đi lên của mình, như khi chuyển đổi cơ chế, chính sách quản lý SXKD, ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, khu vực, biến động thị trường tiêu thụ than; ảnh hưởng thời tiết, thiên tai... Mối quan hệ phối hợp, chỉ đạo, tạo điều kiện giữa chính quyền và nhân dân địa phương Quảng Ninh với ngành Than không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và doanh nghiệp, giữa ngành kinh tế và địa phương, mà quan trọng hơn đó là mối quan hệ từ truyền thống cách mạng vẻ vang của Vùng mỏ, là sự gắn kết để cùng nhau phát triển bền vững giữa ngành kinh tế quan trọng và tỉnh công nghiệp trọng điểm của đất nước. Đảng bộ Than Quảng Ninh với trên 17.500 đảng viên là Đảng bộ cấp trên của các cơ sở Đảng trong doanh nghiệp ngành than tại địa bàn Quảng Ninh và trực thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ Quảng Ninh; với nhiệm vụ chính là lãnh đạo phát triển ngành Than tại Quảng Ninh.
Để quản lý, khai thác, chế biến, tiêu thụ than đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn; những năm qua Đảng, Nhà nước, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chủ trương, chính sách, quy định liên quan đến ngành Than. Và TKV đã cụ thể hoá những chủ trương, chính sách, quy định đó bằng những giải pháp tổ chức quản lý quá trình SXKD than trên địa bàn Quảng Ninh, tập trung vào các giải pháp quản lý tài nguyên, khai trường mỏ, quản lý khai thác, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than, quản lý môi trường, an toàn lao động, ANTTXH trong quá trình SXKD than; phối hợp giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn. Những giải pháp này đã có hiệu quả thiết thực cơ bản giữ vững được ổn định trong SXKD than ở Quảng Ninh; và ngành Than có bước tăng trưởng cao. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ngành Than với chính quyền và nhân dân địa phương ở Quảng Ninh ngày càng được coi trọng, củng cố có hiệu quả thiết thực, tạo môi trường thuận lợi để phát triển SXKD ngành Than và phát triển KT-XH Quảng Ninh. Nhận thức về phát triển bền vững ngành Than phải gắn liền với phát triển kinh tế của tỉnh, của cán bộ, CNVC ngành Than ngày càng rõ nét hơn, đi vào thực tế cuộc sống hơn.
Ngành Than cũng đã nhận rõ thiếu sót, khuyết điểm tồn tại của mình trong quản lý, khai thác, kinh doanh than thời gian qua, nhất là để xảy ra tình trạng khai thác, kinh doanh than trái phép trong năm 2007 đến 2008 và đầu năm 2010 ở một số đơn vị thành viên. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý, SXKD than của TKV, của các đơn vị thành viên thiếu chặt chẽ, kịp thời; sự phối hợp với chính quyền, nhân dân địa phương của một số đơn vị thành viên hiệu quả còn thấp.
Để ngành Than Việt Nam tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, đáp ứng yêu cầu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển đúng quy hoạch ngành Than Việt Nam đến năm 2020, ngành Than đề ra và tập trung vào các giải pháp quan trọng trong thời gian tới.
Chúng tôi cũng đề nghị các Đảng bộ huyện, thị xã, phường, xã nơi có các đơn vị ngành Than đứng chân tiếp tục quan tâm phối hợp, tạo điều kiện để các đơn vị thành viên và toàn ngành Than tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, có thêm sức mạnh chung để thực hiện tốt nhiệm vụ SXKD than, góp phần phát triển KT- XH Quảng Ninh ngày càng giàu mạnh.
------------------------------------------
* Đầu đề của toà soạn
Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả tăng trưởng
(Đồng chí Vũ Hồng Thanh, Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư)
Để hoàn thành các mục tiêu của Đại hội sẽ đặt ra cao hơn giai đoạn 2006-2010, việc tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về vốn, lao động và đất đai có tính chất quyết định trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển.
Nhằm khắc phục những hạn chế gặp phải trong huy động và sử dụng các nguồn lực về vốn, lao động và đất đai, cần tổ chức thực hiện có hiệu quả, đồng bộ các giải pháp, cơ chế chính sách cơ bản sau để nâng cao chất lượng, hiệu quả tăng trưởng:
Thứ nhất, phải tiếp tục tạo các điều kiện thuận lợi, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để huy động mọi nguồn lực để đầu tư sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực mà Nhà nước không cấm.
Với giải pháp và cơ chế chính sách hợp lý, Quảng Ninh đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài, trong nước và của Quảng Ninh đầu tư vào sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực: Xây dựng kết cấu hạ tầng khu đô thị, phát triển du lịch, thương mại, sản xuất vật liệu, xây dựng, hàng tiêu dùng và các trang trại trồng cây ăn quả, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản…
Trong 5 năm tới, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội cần khoảng 243.000 tỷ đồng (chỉ tính riêng đầu tư cho KKT Vân Đồn, sẽ có khoảng 40 dự án cần ưu tiên đầu tư với tổng kinh phí 90.000 tỷ đồng). Tổng số kinh phí cho giai đoạn 2011-2015 gấp 1,8 lần so với 5 năm trước để tập trung xây dựng, tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất than, điện, đóng tàu… và đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, du lịch, hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao…).
Về các nguồn vốn đầu tư huy động trong 5 năm tới dự kiến sẽ thực hiện như sau: Nguồn vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư) khoảng 18.600 tỷ đồng. Đây là nguồn vốn “mồi” tạo ra khả năng tích cực để huy động các nguồn vốn khác. Do đó, cần phải sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp có sở hữu vốn nhà nước (chủ yếu là các Tập đoàn kinh tế như: Than, điện, dầu khí, đóng tàu...) chiếm 71% tương đương 172.000 tỷ đồng. Đây là nguồn lực đầu tư chủ yếu trong 5 năm tới. Do đó, cần có chính sách đặc biệt đối với các Tập đoàn nhà nước, nhất là tạo điều kiện giải quyết các thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng…
Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân chiếm 15% tương đương 36.000 tỷ đồng. Để khai thác huy động nguồn vốn đầu tư trong khu vực còn nhiều tiềm năng này, cần làm tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để phát triển doanh nghiệp.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 6,1% tương đương 14.800 tỷ đồng, tăng 2,6 lần so với 5 năm trước. Theo đó cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút vốn theo hướng ưu tiên chọn lọc dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, chuyển hướng thu hút đầu tư nước ngoài từ phát triển chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu...
Thứ hai, tập trung ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, thu hút lao động trình độ cao, có tay nghề, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo; đổi mới chính sách tuyển dụng, thu hút nhân tài, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng thêm 12% để nâng từ 48% lên 60%. Để nâng cao chất lượng lao động hơn nữa cần xây dựng quy hoạch đào tạo nghề đón đầu được sự phát triển; có chính sách ưu tiên đặc biệt để khuyến khích mở thêm nhiều trường dạy nghề mới, đồng thời, mở các lớp ngắn hạn để đào tạo cho người lao động, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc giải quyết thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, doanh nhân.
Đặc biệt cần quan tâm xây dựng hạ tầng xã hội, nhà ở cho người lao động để thu hút lao động có tay nghề tới làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, các dự án lớn trên địa bàn tỉnh đã và sẽ hình thành trong thời gian tới, thực hiện chủ trương phát triển dân số cơ học.
Thứ ba, phát huy hiệu quả cao nguồn lực từ đất đai. Cần tiếp tục phát huy vai trò của các trung tâm phát triển quỹ đất trong việc phát hiện, đề xuất các quỹ đất sạch, để tổ chức đấu giá đối với khu vực có lợi thế thương mại đặc biệt; khuyến khích thực hiện hình thức giao đất thu tiền sử dụng đất đối với các khu vực có lợi thế thương mại khác để bổ sung nguồn lực hoàn thành xây dựng các thiết chế văn hoá (sân vận động, bảo tàng, thư viện, triển lãm...), cải tạo cảnh quan môi trường khắc phục nhược điểm của việc xây dựng kè bằng công nghệ bệ phản áp, từng bước hoàn thành các chỉ tiêu Nông thôn mới” như: Nhà sinh hoạt cộng đồng, nước sạch, vệ sinh nông thôn...
Tập trung rà soát, thu hồi công trình, dự án triển khai không đúng mục đích, tiến độ; đối với các dự án mới: Tách nghiên cứu quy hoạch với xem xét chấp thuận giao làm chủ đầu tư, đồng thời giao thời hạn rõ ràng tiến độ triển khai thực hiện để có cơ sở thu hồi khi không thực hiện đúng tiến độ cam kết.