Từ một vụ khiếu kiện đến một vụ án: Bài học về xử lý sai phạm

Đầu năm 2001, ông Nguyễn Đức Thưởng có đơn đến Sở Thương mại, cho rằng: cán bộ Sở Thương mại đã tự động phá gian nhà nói trên và yêu cầu được bồi thường, giá trị tài sản bao gồm tiền xây dựng gian nhà, cùng đồ dùng nội thất, tổng giá trị 8.087.000đ.

Giám đốc Sở Thương mại  lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Khiêm đã giao Thanh tra Sở kiểm tra lại toàn bộ sự việc, báo cáo.

* Khi Cái sai không được phát hiện, xử lý kịp thời

Khoảng tháng 5-1999, ông Nguyễn Đức Thưởng, trú tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà (Thái Bình) ra Móng Cái tìm hướng kinh doanh. Gặp bạn cũ là ông Phạm Văn Thường, Phó Ban Mậu dịch Biên giới (Sở Thương mại), hai người bàn bạc, thoả thuận: Ông Thường đồng ý cho ông Thưởng thuê một phần mặt bằng trên tầng 1 ngôi nhà số 9, phố Hồ Xuân Hương (TX Móng Cái) với giá 100.000đ/tháng, thời gian thuê là 2 năm. (Sau bị sửa là 5 năm không có ghi chú hoặc đóng dấu sửa). Bên thuê (ông Thưởng) đầu tư xây trên đó một gian nhà (không cụ thể kích thước, chi phí), hết bao nhiêu sẽ trừ vào tiền thuê nhà hàng tháng. Hai bên cùng liên doanh làm đại lý tiêu thụ sản phẩm thuốc lá của XN Hồng Hà tại Móng Cái. Hợp đồng làm đại lý do ông Thường ký với Xí nghiệp Hồng Hà.

Trên cơ sở ‘’hợp đồng’’ này, ngày 5-10-1999, ông Phạm Văn Thường (nhân danh Ban Mậu dịch Biên giới) lại ký một ‘’Hợp đồng kinh tế” với Giám đốc Vũ Tô Hiệp, đại diện Công ty Xây dựng Bình Long, xây 1 gian nhà cấp 4 (phía trên khu phụ của căn nhà số 9, phố Hồ Xuân Hương) với tổng kinh phí dự toán là 6.337.000đ, thời gian hoàn thành, bàn giao công trình là ngày 30-12-1999. Ngày 20-12-1999, hai bên tổ chức nghiệm thu, và quyết toán vào ngày 25-12-1999 đúng kinh phí dự toán.

Việc làm của ông Phạm Văn Thường, ông Nguyễn Đức Thưởng là không được phép của cơ quan có thẩm quyền, và việc xây 1 gian nhà cấp 4 (dù trên khu phụ nhà số 9, phố Hồ Xuân Hương) là vi phạm quy chế quản lý đầu tư, xây dựng, và trật tự quản lý đô thị, vì việc ký kết các hợp đồng này giữa ông Phạm Thường và các bên liên quan, không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Mậu dịch Biên giới, và chưa được cấp phép của cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng. Thế nhưng, không hiểu sao, trong suốt quá trình triển khai thi công và quyết toán, thậm chí đưa công trình vào sử dụng, Sở Thương mại vẫn ‘’không biết’’ (?!). Gần 1 năm sau, Sở Thương mại có kế hoạch giao ngôi nhà số 9, phố Hồ Xuân Hương cho Đội Quản lý thị trường số 4 sử dụng tạm (trong thời gian thi công trụ sở chính ở đường Ka Long). Trưởng Phòng TC-HC Nguyễn Xuân Yên và kế toán Nguyễn Thị Sâm, thay mặt lãnh đạo Sở, cùng đại diện Chi cục QLTT tỉnh gồm: Trưởng Phòng TC-HC Đinh Thị Goòng, Trưởng Phòng KT-TV Nguyễn Công Định và ông Nguyễn Văn Thông (Phòng Nghiệp vụ Tổng hợp), ông Trần Văn Thắng (cán bộ XDCB) ký nhận biên bản bàn giao tài sản (ngày 28-11-2000). Không biết gian nhà cấp 4 (khoảng 17m2) trên khu công trình phụ có tồn tại hay không, nhưng không có trong danh mục bàn giao. Đến khi Đội QLTT số 4 tiếp nhận, cải tạo, sửa chữa nhỏ cũng không thấy có hạng mục phá dỡ gian nhà này, đưa vào thanh, quyết toán.

Đầu năm 2001, ông Nguyễn Đức Thưởng có đơn đến Sở Thương mại, cho rằng: cán bộ Sở Thương mại đã tự động phá gian nhà nói trên và yêu cầu được bồi thường, giá trị tài sản bao gồm tiền xây dựng gian nhà, cùng đồ dùng nội thất, tổng giá trị 8.087.000đ.
Giám đốc Sở Thương mạilúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Khiêm đã giao Thanh tra Sở kiểm tra lại toàn bộ sự việc, báo cáo. Trên cơ sở đề xuất của Thanh tra, lãnh đạo Sở Thương mại có Công văn số 107/TM ngày 26-3-2001, gửi cho ông Thường và ông Thưởng, nội dung khẳng định: Hai ông phải chịu trách nhiệm về những phát sinh do các ông gây nên; nếu hai ông không tự giải quyết được thì làm đơn gửi TAND giải quyết theo quy định của Pháp luật. Sở Thương mại QN không có căn cứ để giải quyết hậu quả này. Riêng ông Phạm Thường, làmtrái quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm trước pháp luật...

Sau đó, không biết việc tự giải quyết giữa ông Thường và ông Thưởng như thế nào? Sở Thương mại không nhận được hồi âm và cũng không tiếp tục nắm diễn biến tiếp theo của vụ việc để xử lý triệt để việc khiếu kiện này.
Hơn 4 năm sau, chuyện tưởng đã là dĩ vãng, lại “bật dậy” thành một vụ kiện dân sự, khiến nhiều cơ quan chức năng phải tốn không ít thời gian, công sức giải quyết, mà cho đến bây giờ vẫn chưa xong...

* Dẫn đến hậu quả khiếu kiện kéo dài

Sau khi ông Phạm Văn Thường mất (năm 2004), ngày 7-6-2005, ông Nguyễn Đức Thưởng khởi kiện đến Toà án ND TP Hạ Long đòi Sở Thương mại “phải bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thuê nhà, tổng số 25.337.000 đồng, bao gồm: tiền xây dựng gian nhà, tiền mua sắm trang, thiết bị, tiền tài liệu liên quan đến kinh doanh và tiền lãi phải trả Ngân hàng...

Ngày 30-12-2005, Sở Thương mại phản tố yêu cầu này, với lý do: Trụ sở Ban Mậu dịch Biên giới là tài sản cố định của Sở. Ban Mậu dịch biên giớikhông có quyền cho thuê hay liên doanh dưới bất kỳ hình thức nào! Việc ký kết hợp đồng giữa ông Thường và ông Thưởng là trái phép. Cơ quan Sở không lưu giữ một văn bản nào liênquan đến các loại tài sản của ông Thường. Việc tháo dỡ gian nhà tự xây, Sở không biết, và không có chỉ đạo!

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 24/2006/DSST ngày 29-11-2006, Toà án ND TP Hạ Long xét thấy: ‘’Việc ông Thưởng cho rằng hợp đồng thuê nhà giữa ông với Ban Mậu dịch biên giới bị vi phạm và yêu cầu Sở Thương mại phải bồi thường là không đúng đối tượng”. Vì thế căn cứ Điều 25, Điều 128, Điều 131- Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà tuyên: ‘’Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Thưởng”.

Tại Bản án Phúc thẩm Dân sự số 06/2007/DSPT ngày 8-2-2007, chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn, Toà án ND tỉnh lại xét thấy: ‘’Nhà và tài sản của ông Thưởng bị thiệt hại là tài sản hợp pháp, (được tạo nên trên cơ sở hợp đồng thuê mặt bằng sân thượng của ngôi nhà do người có trách nhiệm quản lý, sử dụng là ông Thường, Phó Ban Mậu dịch biên giới đã ký thoả thuận). Việc tháo dỡ gian nhà và để thất thoát tài sản trong đó, do lực lượng Quản lý thị trường, cũng là đơn vị thuộc Sở Thương mại”. Vì thế áp dụng Điều 275, Điều 276- BLTTDS, Toà Quyết định ‘’Buộc Sở Thương mại QN phải bồi thường số tiền thiệt hại cho ông Thưởnglà 11.837.000 đồng”(bao gồm 2 khoản tiền xây dựng gian nhà và tiền mua sắm trang, thiết bị).

Không ‘’tâm phục, khẩu phục’’ phán quyết này, Sở Thương mại tiếp tục khiếu nại Bản án Phúc thẩm lên TAND Tối cao.
Người viết bài này thì cho rằng: Việc ‘’xét thấy’’ tài sản của ông Thưởng bị thiệt hại là ‘’tài sản hợp pháp’’ chưa thật thoả đáng, bởi vì: Việc xây dựng gian nhà tuy có sự đồng ý của người quản lý, sử dụng trực tiếp, nhưng vẫn là trái phép. Còn nếu xét về hình thức hợp đồng thì ‘’Hợp đồng thuê nhà - liên doanh’’ ký ngày 15-5-1999 giữa đại diện Ban MDBG là ông Thường (căn cứ con dấu trong hợp đồng) với ông Nguyễn Đức Thưởng (tư cách ‘’Đại diện Tập đoàn Đại chính thuộc Uỷ ban Hợp tác đầu tư’’ mà chẳng rõ từ đâu có chức danh này?) đã không tuân thủ các quy định của pháp luật (theo Điều 477, 489 - BLDS năm 1995) tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Về thời hiệu khởi kiện cũng rất cần được xem xét, là vì: Điểm 5 - Nghị quyết số 32/2004/QH11 đã chỉ rõ: các tranh chấp, yêu cầu về dân sự... phát sinh trước ngày BLTTDS có hiệu lực (01-01-2005) mà các văn bản pháp luật trước đây không quy định thời hiệu khởi kiện...thì áp dụng quy định tại Điều 159-BLTTDS’’. Điều luật này quy định: ‘’Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức... bị xâm phạm”.

Đối chiếu việc ông Nguyễn Đức Thưởng bị thiệt hại tài sản (tháng 10-2000) thì đến thời điểm khởi kiện đã quá thời hiệu khởi kiện nhiều năm.

Đấy làchưa nói đến kết quả ‘’tự giải quyết’’ hậu quả hành vi sai trái giữa ông Thưởng và ông Thường theo Công văn số 107/TM ngày 26-3-2001 của Sở Thương mại.

Một vụ việc, do không được giải quyết một cách kiên quyết, triệt để, đúng pháp luật, đã là nguyên nhân gây khiếu kiện kéo dài. Đây có thể coi là những bài học về giải quyết tranh chấp sao cho ‘’thấu lý, đạt tình’’.