Hiến sinh (tế vật sống) là hiện tượng khá phổ biến ra đời từ lâu trong tín ngưỡng của nhiều dân tộc ở Việt Nam. Hiến sinh gồm cả hiến người và động vật. Trong quá trình nạo vét sông Tô Lịch cách đây chừng 2-3 năm, người ta đã phát hiện nhiều bộ xương và đồ tuỳ táng sinh hoạt, mà các nhà khoa học đã đưa ra giả thiết về một sự hiến sinh để trấn yểm long mạch thành Đại La thuở trước. Trong nhiều sử liệu cũng đã từng ghi lại những cuộc hiến sinh, kể cả vật hiến sinh là người thân cận của vua chúa.
Ở Quảng Ninh, tục hiến sinh có nguồn gốc từ lâu đời và tồn tại đến ngày nay trong tín ngưỡng của một số dân tộc. Theo truyền thuyết ở một xã nọ của Hà Nam (Yên Hưng), ngày xưa, trong quá trình đắp đê ngăn mặn, đắp mãi mà đê vẫn vỡ. Những chức sắc trong làng bèn lập đàn trên khúc đê vỡ rồi cho vời cặp vợ chồng người hát rong lên đó biểu diễn, sau đó bất ngờ giật đổ đàn để vợ chồng kia chết đuối - coi đó là vật tế thuỷ thần. Sau đó, đê được đắp xong và dân làng đã lập đền thờ tri ân cặp vợ chồng người hát rong. ở thời đại ngày nay, dĩ nhiên tục hiến sinh vật tế là người không còn mà chỉ dùng cho động vật. Trong đó, vật tế phổ biến là gà, lợn, trâu...
Trong lễ tế hội làng của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả (Hoành Bồ), vật hiến sinh được chọn là 1 con gà trống. Theo quan niệm của đồng bào, con gà trống khi ấy được coi là biểu hiện của những điều không may mắn. Trong tiếng nhạc ngũ âm, những thầy mo nhảy trước ban thờ Bàn vương, một trong số thầy mo ôm con gà trống trước ngực. Bất thình lình, thầy mo này dừng lại nhanh như cắt vặn cổ con gà, vứt xác vào chiếc mẹt ở giữa chiếu - điều ấy đồng nghĩa những xui xẻo sẽ bay đi.
Cũng dùng gà làm vật hiến sinh, tuy nhiên người Sán Dìu lại dùng gà trong lễ an táng. Trước khi an táng, thầy cúng ôm con gà trống lầm rầm cúng, sau đó ném con gà xuống huyệt mộ, đầu gà quay về hướng nào thì đặt người chết quay về hướng ấy. Tuy nhiên, tục hiến sinh rõ nhất phải kể đến là trong lễ Đại phan cũng của người Sán Dìu ở xã Bình Dân (Vân Đồn).
Lễ Đại phan thực chất là lễ cầu mùa của người Sán Dìu có từ lâu đời. Trọng tâm của lễ chính là nghi lễ chém súc. Sau khoảng 50 năm gián đoạn, cuối năm 2008, Sở VH-TT&DL phối hợp với UBND huyện Vân Đồn và chính quyền xã Bình Dân phục dựng lại lễ này trong sự phấn khởi của đồng bào Sán Dìu ở địa phương. Vật hiến sinh ở đây là 1 con lợn và 1 con trâu. Tương tự với quan niệm của người Dao, hai vật tế được coi là hiện thân của những ác quỷ, xui xẻo. Tuy nhiên, do kinh phí có hạn nên con trâu đã được thay thế bằng con bò. Chuẩn bị cho nghi lễ, người ta trói chặt 2 con vật đáng thương vào cọc. Sau hiệu lệnh của Phan chủ (chủ tế), 2 người đàn ông lực lưỡng cầm con dao đi rừng sáng loáng chạy đến. Chỉ bằng 2 nhát vung xuống, đầu của 2 con vật đáng thương đã lìa khỏi cổ. Người ta cầm 2 chiếc đầu ròng ròng máu chạy đến tưới đều lên 2 hàng bát để sẵn để tế thần. Nhìn cảnh tượng đó, người xem lần đầu không khỏi cảm thấy kinh hãi.
Một số dân tộc thiểu số khác như Sán Chỉ, Tày ở khu vực miền Đông của tỉnh cũng thường dùng gà, lợn sống làm vật hiến sinh trong một số nghi lễ cúng tổ tiên, cúng thần. Trong lễ hội đình Lục Nà, xã Lục Hồn (Bình Liêu), dân bản tế thần bằng 1 con lợn sống. Khi giết thịt, thay vì chọc tiết bằng dao như cách thông thường, người ta dùng 1 đoạn sắt tròn đâm ngang cổ con vật.
Có thể nói, hiến sinh là một phần trong tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc. ẩn chứa sau hành động có vẻ gớm ghiếc ấy là khát vọng về ngày mai tốt đẹp hơn cho gia đình, cộng đồng. Bởi vậy, nó đã và sẽ tồn tại cùng với các giá trị văn hoá khác trong đời sống của đồng bào các dân tộc.