Những ngày này khắp nơi trong tỉnh đang dấy lên nhiều phong trào thi đua lập thành tích kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập tỉnh. Không chỉ những công dân trẻ tuổi như chúng tôi, mà tất cả những ai đã từng sống, chiến đấu, công tác ở Quảng Ninh đều có chung niềm vui, tự hào về những thành quả tỉnh nhà đã đạt được. Điều đó sẽ tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho mỗi công dân ra sức phấn đấu vì mục tiêu, đưa Quảng Ninh trở thành địa bàn động lực, phát triển năng động.
Gian nan những ngày đầu thành lập tỉnh
Sau khi hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh theo nghị quyết Quốc hội, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. Bị thất bại liên tiếp trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Vì thế, những nghị quyết, chỉ thị đầu tiên của Tỉnh uỷ sau ngày thành lập tỉnh đều đề cập đến nhiệm vụ chống gián điệp, biệt kích, tích cực chuẩn bị chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Chỉ một thời gian ngắn sau ngày thành lập tỉnh, đế quốc Mỹ đã cho máy bay bắn phá các mục tiêu ở Hồng Gai. Nhờ có sự đoàn kết, chuẩn bị kỹ, nên ngay trong trận đầu ngày 5-8-1964, quân và dân Quảng Ninh đã ghi được chiến công lớn, bắn hạ 3 máy bay, bắt sống tên giặc lái đầu tiên trên miền Bắc. Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt, Tỉnh uỷ đã ra nghị quyết chỉ đạo chuyển hướng xây dựng kinh tế từ thời bình sang thời chiến. Điều kiện của tỉnh nhà giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn: Tình trạng mù chữ vẫn còn ở các địa phương, cán bộ vừa thiếu vừa yếu, sản xuất nhiều khi bị đình trệ do chiến tranh phá hoại của kẻ thù…
Chỉ sau gần 2 năm từ khi thành lập tỉnh, chúng ta đã phải tiến hành sơ tán các cơ quan, người dân, cơ sở sản xuất để đảm bảo vừa chiến đấu vừa xây dựng. Trong điều kiện đó, các ngành kinh tế của tỉnh lại càng thêm nhiều khó khăn. Như ngành Than, năm 1965, khai thác được 3,7 triệu tấn, nhưng năm 1967 chỉ đạt 1,7 triệu tấn. Sản xuất nông, lâm nghiệp và khai thác thuỷ sản vừa phải chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa phải ứng phó, khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lụt. Thế nhưng, với tinh thần đoàn kết, kiên cường, không quản ngại hy sinh, gian khổ, quân và dân trong tỉnh đã lập nên nhiều chiến công cả trong sản xuất và chiến đấu. Để chi viện cho miền Nam đánh giặc, mỗi người dân đều đăng ký thi đua làm việc bằng hai. Năm 1968, sản lượng khai thác than đạt gần 2,3 triệu tấn, trong đó xuất khẩu trên 640 tấn. Các ngành công nghiệp địa phương như sản xuất vật liệu xây dựng, muối, chế biến bắt đầu được hình thành. Diện tích đất canh tác nông, lâm nghiệp không ngừng được mở rộng; số hợp tác xã bậc thấp được nâng cấp thành bậc cao ngày càng nhiều. Chỉ sau 2 năm thành lập tỉnh, các địa phương đã cơ bản xoá được nạn mù chữ; trình độ người dân không ngừng được nâng cao. Trong điều kiện chiến tranh, các lực lượng vũ trang của tỉnh cũng không ngừng lớn mạnh, đủ sức đánh trả những đợt oanh tạc của đế quốc Mỹ.
Địa bàn động lực, phát triển năng động
Sau hơn hai mươi năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Quảng Ninh đã đạt được những bước tiến quan trọng. Báo cáo kiểm điểm hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII nêu “từ địa phương còn chủ yếu dựa vào trợ cấp của Trung ương vươn lên phát triển khá toàn diện trên tất cả các mặt, đã tự cân đối và có đóng góp chung với cả nước, từng bước khẳng định được vị thế, vai trò là địa bàn động lực trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”.
Các ngành kinh tế của tỉnh hiện tăng trưởng, phát triển gấp nhiều lần so với hồi tỉnh mới được thành lập. Sản lượng khai thác than mỗi năm hiện nay đã bằng kết quả của cả kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Trong ngành công nghiệp, “Nhà máy điện Uông Bí và mỏ Vàng Danh đều là những xí nghiệp vào loại to và hiện đại nhất cả nước ta” như lời Bác Hồ đã nói trong dịp về thăm tỉnh hồi Tết ất Tỵ (1965), thì nay chúng ta đã xây dựng và phát triển được rất nhiều cơ sở công nghiệp quy mô lớn, hiện đại. Từ Nhà máy điện Uông Bí trước kia do Liên Xô giúp xây dựng, đến nay chúng ta đã tự xây dựng được một loạt các nhà máy nhiệt điện công suất lớn. Công nghiệp đóng tàu, xi măng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng, cảng biển đều là thế mạnh của Quảng Ninh hiện nay. Ngành công nghiệp “không khói” có sự phát triển vượt bậc. Nếu trước kia, du khách đến Quảng Ninh chỉ nghỉ mát ở một Bãi Cháy nghèo nàn về các dịch vụ, thì nay ngành Du lịch Quảng Ninh đã mang tầm vóc quốc tế, đủ sức đón tiếp các vị khách nước ngoài khó tính nhất với các dịch vụ cao cấp. Số du khách đến Quảng Ninh hiện đạt mức từ 3 đến 4 triệu lượt mỗi năm. Các hoạt động đầu tư, thương mại, xuất nhập khẩu của tỉnh đã đạt được những thành tích ấn tượng, tương lai hứa hẹn sự phát triển vượt bậc hơn nhiều, khi mà các dự án về đầu tư hạ tầng giao thông, cửa khẩu được triển khai, các mô hình về khu thương mại tự do, khu kinh tế đi vào hoạt động. Trong nông nghiệp, các lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng… cũng đạt những thành tựu quan trọng. Tới đây, khi nghị quyết của Trung ương về nông dân, nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, chắc chắn đời sống của nông dân, bộ mặt nông thôn sẽ có sự đổi mới hơn nữa. Khi đó, thu nhập bình quân đầu người hằng năm của tỉnh sẽ không chỉ dừng lại ở mức trên 1.000 USD như hiện nay.
45 năm xây dựng và phát triển, tinh thần đoàn kết của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn là bài học kinh nghiệm, yếu tố quyết định thành công xuyên suốt các giai đoạn. Phát huy tinh thần ấy, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh đang ra sức thi đua lao động sản xuất, học tập, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu trở thành “địa bàn động lực, phát triển năng động trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015” mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra.