UBND tỉnh vừa ra Quyết định số 3927/2010/QĐ-UBND về việc quy định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội và mức chi cho công tác chi trả, quản lý đối tượng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Theo đó, mức trợ cấp xã hội hằng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội được xác định trên cơ sở mức chi chuẩn và hệ số quy định cho từng nhóm đối tượng bảo trợ xã hội, gồm: Đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng, sống trong nhà xã hội tại cộng đồng do xã, phường, thị trấn quản lý được trợ cấp mức hỗ trợ theo hệ số từ 1-4.0 tính theo từng đối tượng (hệ số 1 là 300.000 đồng/tháng); đối tượng bảo trợ xã hội được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội được trợ theo hệ số 2.0 đến 2.5 (hệ số 1 là 400.000 đồng/tháng).
Các đối tượng bảo trợ xã hội đang được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội của tỉnh, ngoài được hưởng khoản trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định như trên còn được hưởng các khoản trợ cấp, trợ giúp: Trợ cấp để chi mua sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt, thuốc chữa bệnh thông thường, tiền điện, nước, vệ sinh cá nhân phục vụ cho sinh hoạt thường ngày và các khoản chi phí khác (kể cả tiền hỗ trợ mai táng phí cho đối tượng khi chết); mức trợ cấp bình quân cho 1 đối tượng/năm bằng 10 tháng lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định cho từng thời kỳ.
Người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội với mức hỗ trợ tối đa bằng 0,5 mức lương tối thiểu chung/người/năm.
Khi Nhà nước thay đổi mức lương tối thiểu chung thì mức trợ cấp, hỗ trợ nêu trên cũng được thay đổi tương ứng. Với đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên có thời gian bắt đầu được hưởng trợ cấp ghi trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm từ ngày 01-01-2010 trở về trước thì thời gian được hưởng mức trợ cấp theo quy định tại quyết định này từ ngày 01-01-2010.
Đối với đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên có thời gian bắt đầu được hưởng trợ cấp ghi trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ sau ngày 01-01-2010 thì thời gian được hưởng mức trợ cấp theo quy định tại quyết định này tính từ ngày bắt đầu được hưởng trợ cấp ghi trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho hưởng trợ cấp. Với đối tượng bảo trợ xã hội đang được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, được hưởng mức trợ cấp, trợ giúp theo quy định này từ ngày 01-01-2011.
Về chế độ trợ giúp đột xuất, được thực hiện từ ngày 1-1-2010: Với hộ gia đình có người chết, người mất tích; nhà, phương tiện sản xuất…bị sập, bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn… được hỗ trợ từ 3 triệu đồng đến 20 triệu đồng; riêng với gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng (không thể khắc phục sửa chữa được), mất phương tiện sản xuất chính (tàu, thuyền, sà lan, nhà xưởng, ô tô) do thiên tai, hoả hoạn; hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét mà ở vùng khó khăn thuộc danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định được trợ cấp 25 triệu đồng.
Quyết định này của UBND tỉnh còn quy định mức chi thù lao cho người trực tiếp chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng và định mức chi cho công tác quản lý với các mức khác nhau tuỳ vào địa phương công tác, số đối tượng quản lý…
Kinh phí thực hiện việc hỗ trợ được lấy từ nguồn ngân sách địa phương và được cân đối giao trong dự toán chi ngân sách hằng năm để các địa phương, đơn vị thực hiện. Riêng năm 2010, kinh phí trợ cấp hằng tháng cho đối tượng tăng thêm được chi từ nguồn dự phòng tăng lương của các địa phương; trường hợp địa phương không đủ nguồn để chi thực hiện, ngân sách tỉnh cấp bổ sung cho địa phương để thực hiện.