Ứng dụng công nghệ sinh học - Động lực cho phát triển bền vững

Trong những năm qua, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) có bước chuyển biến, đóng góp thiết thực vào việc phát triển kinh tế của tỉnh. Với những ứng dụng này, đã giúp cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có hướng phát triển mới, phù hợp hơn. Trong đó phải kể đến việc ứng dụng công nghệ tế bào để tạo các giống cây lâm nghiệp chất lượng, sạch bệnh, sinh trưởng nhanh.

Ứng dụng công nghệ sinh học - Động lực cho phát triển bền vững ảnh 1

 Nghiên cứu các giống cây trồng mới tại Trung tâm Khoa học và Sản xuất lâm nông nghiệp Quảng Ninh. 
                                           Ảnh: PV

Nhờ vậy, hàng năm các đơn vị của tỉnh đã sản xuất được khoảng 12-15 triệu cây giống các loại  như: bạch đàn Urô mô, keo lai hom, mô, các dòng phi lao mới như 601, 701, A3... Đây đều là các giống cây trồng có thể thích ứng với nhiều vùng đất trồng, xúc tiến phủ xanh cho vùng đồi trọc, trồng cố định cho các bãi thải của mỏ, hút khí bụi ở các khu công nghiệp trong tỉnh và cung cấp giống cho một số tỉnh bạn. Bên cạnh đó, nhờ ứng dụng CNSH chúng ta còn sản xuất được giống lúa lai  F1 3 dòng, 2 dòng bước đầu phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu giống lúa ở các địa phương trong tỉnh, góp phần nâng cao sản lượng lương thực của tỉnh. Hiện tại, các đơn vị sản xuất đang tiếp tục hoàn thiện quy trình công nghệ để sản xuất một số giống hoa quý, nấm ăn, khoai tây sạch bệnh.

Trong công nghiệp chế biến thực phẩm, CNSH cũng được một số đơn vị quan tâm ứng dụng như: sản xuất rượu bia, nước mắm, nước giải khát bằng công nghệ lên men vi sinh (4 đơn vị sản xuất bia và 2 đơn vị sản xuất nước mắm); một số đơn vị chế biến đã ứng dụng CNSH trong việc bảo quản và chế biến thuỷ hải sản. Việc ứng dụng sản phẩm CNSH để xử lý nước thải trong công nghiệp cũng đã được một số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp cận. Đã có nhiều đơn vị áp dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước thải, rác thải như: xử lý nước thải công nghiệp chế biến giấy, nước thải sinh hoạt khu vực Bãi Cháy; nước thải công nghiệp từ chế biến thực phẩm; xử lý nước thải có dầu; xử lý rác thải đô thị ở một số  bãi rác ở Đèo Sen, Hà Khẩu, Quang Hanh... ứng dụng công nghệ vi sinh bảo vệ môi trường cũng bắt đầu được phát triển ở nông thôn và miền núi.  Hàng nghìn hộ gia đình tại nông thôn miền núi và ở đô thị xây dựng hầm Bioga  tận dụng nguồn thải của phân hữu cơ tạo nhiên liệu đốt, đảm bảo vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho dân cư.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận lại việc đóng góp của CNSH trong công cuộc  phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là chưa thoả đáng. Việc phát triển và ứng dụng CNSH ở tỉnh chưa được đẩy mạnh; ứng dụng các công nghệ gen, vi sinh, công nghệ enzym chưa phát triển, bởi lý do cơ sở vật chất chưa có, lực lượng cán bộ khoa học chưa đủ đáp ứng triển khai các công nghệ này.. Theo số liệu thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh có gần 600 người có trình độ chuyên môn liên quan đến CNSH. Đây là lực lượng chủ yếu để nghiên cứu và tiếp cận, tiếp nhận những thành tựu CNSH ứng dụng vào đời sống, sản xuất. Tuy nhiên, cũng cần phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn cho các cán bộ làm công tác nghiên cứu CNSH vì những nhu cầu thực tế trong lĩnh vực này đang ngày một lớn hơn, đòi hỏi cán bộ có quá trình tích luỹ tìm tòi nhiều hơn nữa. Bên cạnh đó, tại một số đơn vị sự nghiệp của tỉnh, ở các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, tài nguyên và môi trường tuy đã được quan tâm đầu tư thiết bị phục vụ nghiên cứu triển khai về công nghệ sinh học nhưng hệ thống thiết bị này chưa đáp ứng được công tác nghiên cứu, ứng dụng.

Để phát triển và ứng dụng CNSH trong tỉnh mạnh mẽ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội  đáp ứng  sự nghiệp CNH-HĐH, bên cạnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ về công nghệ sinh học có chất lượng, thì việc định hướng đúng với những mục tiêu cụ thể và xác định các nhiệm vụ  trọng tâm sẽ là yếu tố quyết định. Lựa chọn các công nghệ thích ứng để đầu tư đúng hướng, đúng mức và từng bước hình thành hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực CNSH là vấn đề cần được quan tâm để hòa nhịp chung trong quá trình phát triển công nghệ sinh học của đất nước. Hy vọng chương trình ứng dụng và phát triển CNSH của tỉnh sớm được ban hành để đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội bền vững của tỉnh.