Ứng dụng công nghệ tại các làng nghề: Chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển

Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh còn khoảng gần 20 làng nghề lớn nhỏ, trong số đó có 4 làng nghề truyền thống là: Gốm sứ Vĩnh Hồng, gốm sứ Đức Chính (Đông Triều); làng nghề đóng, sửa chữa tàu thuyền Hà An và làng nghề đan thuyền, ngư cụ thôn Hưng Học, xã Nam Hoà (Yên Hưng).

Các làng nghề này đã thu hút gần 15.000 lao động, chiếm 4,93% tổng số lao động nông thôn và chiếm 63,9% so với lao động công nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp của những ngành nghề truyền thống bình quân năm là 270 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 29,37% giá trị sản xuất công nghiệp bình quân 1 năm của các huyện, thị xã, thành phố.

Sửa chữa và đóng mới tàu thuyền ở xã Hà An (Yên Hưng).

Sửa chữa và đóng mới tàu thuyền ở xã Hà An (Yên Hưng).

Qua tìm hiểu, tại các làng nghề, người lao động chủ yếu làm thủ công, máy móc công nghệ có tham gia vào quá trình sản xuất nếu có cũng đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và không đồng bộ. Bên cạnh đó, sản xuất tại các làng nghề trên địa bàn hiện nay là sản xuất nhỏ lẻ, phụ thuộc vào sức lao động và sự tỉ mẩn của người thợ là chính. Do đó, sản phẩm làm ra ít mà chưa chắc đã đều, đẹp, dẫn đến giá trị cạnh tranh không cao. Điển hình như hai ngành nghề sản xuất gốm sứ và đóng tàu đang rất phát triển tại Đông Triều và Yên Hưng. Với những ngành nghề này, mỗi năm các địa phương có thể giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động với mức thu nhập trên dưới 1 triệu đồng/người/tháng. Nếu nhìn nhận một cách khách quan thì sự phát triển các nghề này hiện nay còn quá manh mún. Tuy có phát triển nhưng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Ngoài một số công ty, cơ sở sản xuất lớn, mạnh dạn đầu tư thiết bị máy móc để phát triển còn lại vẫn chủ yếu là thủ công, dùng sức lao động của con người là chính nên sản phẩm đưa ra thị trường chỉ đáp ứng được yêu cầu tại một số tỉnh chứ không thể nói đến chuyện đưa ra thế giới.

Việc thiếu đầu tư cho công nghệ chủ yếu vẫn do chủ cơ sở sản xuất thiếu vốn. Các nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất hiện nay chủ yếu hướng tới đối tượng người nghèo, còn đối với các chủ cơ sở sản xuất thì việc vay vốn rất khó khăn vì thủ tục rườm rà, lãi suất cao. Muốn đầu tư công nghệ hiện đại phải có vốn lớn, trong khi điều kiện cho vay của các ngân hàng ngày một ngặt nghèo. Thêm vào đó, khả năng tiêu thụ sản phẩm tại các làng nghề hiện nay cũng khá bấp bênh nên việc đầu tư công nghệ để phát triển sản xuất dường như trở nên quá mạo hiểm đối với người sản xuất. Đơn cử như việc xây dựng một hệ thống lò nung gốm loại trung, chủ cơ sở sản xuất phải đầu tư hơn 1 tỷ đồng (chưa kể các chi phí nguyên liệu đốt, đầu tư thêm thiết bị, nhà xưởng)… Chính vì lẽ đó mà hiện nay, tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề rất chậm, vì việc đầu tư phụ thuộc vào khả năng của từng tổ hợp hoặc từng hộ gia đình. Các thiết bị tự động hoặc bán tự động được sử dụng trong dây chuyền sản xuất (nếu có) thì phần lớn đã cũ, không đồng bộ, nhiều thiết bị không còn đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Mặt khác, nguồn lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề trên địa bàn tỉnh tuy dồi dào, nhưng còn thiếu lao động có tay nghề cao, thiếu nhân lực quản lý và lao động kỹ thuật.

Việc thiếu đầu tư công nghệ tại các làng nghề hiện nay đã và đang gây ra những tác động ngày một lớn cho môi trường. Các công nghệ và thiết bị bảo vệ môi trường chưa có mặt trong các dây chuyền sản xuất. Hầu hết ở các làng nghề vẫn dùng than củi và than đá nên ô nhiễm môi trường không khí do việc sử dụng nhiên liệu thông qua các sản phẩm cháy là rất lớn. Các chỉ tiêu về thông số đảm bảo môi trường đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn. Các chất này không được xử lý khi thải ra môi trường sẽ phát sinh rất nhiều các chất ô nhiễm thứ cấp dạng khí như CH4, H2S, NH3 gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân sống trên địa bàn. Nước thải phần lớn đều không được xử lý và thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng tới nguồn nước.

Được biết hiện nay, một số chính sách hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, đầu tư công nghệ ở địa phương đã được áp dụng nhưng thật sự chưa mang lại hiệu quả, người sản xuất cũng chưa mặn mà lắm với các khoản hỗ trợ này.

Phát triển sản xuất ở các làng nghề tại các địa phương là một hướng đi đúng đắn và lâu dài, không những giải quyết được một số lượng lớn lao động tại địa phương mà còn góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn. Chính vì vậy, các cấp, ngành và các địa phương nên dành sự quan tâm và có các chính sách hỗ trợ để giúp người dân được tiếp cận với công nghệ hiện đại, phát triển sản xuất.

Cùng chuyên mục