Vấn đề không mới, giải pháp chưa toàn diện

Ngày 15-12,  ngày làm việc cuối cùng của kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh khóa XI tiến hành phiên giải trình và trả lời chất vấn của lãnh đạo các ngành chức năng. Nội dung  chất vấn, giải trình lần này vẫn là những vấn đề không mới như tình trạng ô nhiễm môi trường, tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản chậm, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng chưa thỏa đáng... Nhưng các giải pháp mà các ngành chức năng đưa ra chưa toàn diện, triệt để.

Ô nhiễm môi trường - lãnh đạo TKV vẫn còn né tránh

Vấn đề ô nhiễm môi trường đã nhiều lần được đặt ra trong phiên chất vấn của các kỳ họp trước, nhưng tại kỳ họp này nhiều đại biểu (ĐB) vẫn rất bức xúc. Có lẽ vì thế mà có tới 2 người đại diện được yêu cầu giải trình là: Giám đốc Sở TN&MT Nguyễn Mạnh Cường và Phó Tổng Giám đốc cho Sở TN&MT và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Vũ Mạnh Hùng. Báo cáo giải trình về công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường do Giám đốc Sở TN&MT trình bày dài tới 11 trang, nêu cụ thể, chi tiết vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước một số khu vực của tỉnh, phân tích rõ nguyên nhân, nêu những kết quả đạt được và đề ra các giải pháp để bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Báo cáo của TKV cũng thừa nhận 3 bất cập lớn trong bảo vệ môi trường ở vùng than Quảng Ninh hiện nay gồm: sản lượng tăng nhanh nhưng hạ tầng giao thông, hậu cần không đáp ứng được; các bãi thải quá cao uy hiếp sự an toàn các khu dân cư, gây bồi lấp sông suối và nước thải mỏ chưa được xử lý gây ô nhiễm môi trường nước. Cùng với việc giải trình những việc đã làm, lãnh đạo TKV đã nêu nhiều giải pháp để hạn chế sự tác động đến môi trường của việc khai thác than.

h
Các đại biểu HĐND tỉnh chất vấn tại kỳ họp

Chưa hài lòng với giải trình của lãnh đạo TKV, ĐB Nguyễn Hùng Thắng (Đông Triều) cho biết: Hiện nay, do ảnh hưởng của khai thác than, nên các hồ nước ở Đông Triều có độ pH ở khoảng 3 độ, gần như là a xít loãng. Những năm qua, sản lượng lương thực của Đông Triều giảm khoảng 15% (khoảng trên 10.000 tấn lương thực). Với thời giá hiện nay là 4.500 đồng/kg, ĐB Nguyễn Hùng Thắng cho rằng nông dân Đông Triều mỗi năm thiệt hại khoảng 40 tỷ đồng. Sản lượng than vùng than Đông Triều những năm qua tăng khoảng 4 lần. Nông dân Đông Triều chẳng được hưởng gì, nhưng lại phải chi phí khoảng 6.000 đồng cho mỗi tấn than? ĐB Nguyễn Hùng Thắng đề nghị phải xác định thật rõ trách nhiệm trong việc này. ĐB Nguyễn Trọng Minh (Vân Đồn) khi chất vấn vẫn bảo lưu ý kiến như tại kỳ họp thứ 10, và nhấn mạnh rằng khai thác than hiện nay quá “nóng”, đồng thời phản ánh hằng ngày có hàng trăm sà lan chuyển tải than ở khu vực xã Thắng Lợi ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản của người dân, trong khi dân Vân Đồn không được hưởng phí bảo vệ môi trường trích lại từ khai thác than. ĐB Nguyễn Trọng Minh đề nghị HĐND tỉnh và các đại biểu Quốc hội ở tỉnh phải tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật về môi trường ở vùng than Quảng Ninh. ĐB Đỗ Thông (Cẩm Phả) đặt câu hỏi: Đến khi nào thì TKV mới đảo ngược được tỷ lệ 2/3 sản lượng khai thác than lộ thiên hiện nay (vốn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng), thành tỷ lệ 2/3 sản lượng khai thác hầm lò? ĐB Đỗ Ngọc Phương (Hạ Long) lại đặt vấn đề sao TKV không tái định cư cho các hộ dân sống trong khu vực ranh giới mỏ.

Trả lời các chất vấn trên, lãnh đạo TKV cũng đã nêu được một số biện pháp nhưng vẫn còn né tránh (vấn đề ai chịu trách nhiệm trước thiệt hại của nông dân Đông Triều và người nuôi trồng thủy sản ở xã Thắng Lợi, huyện Vân Đồn), hoặc chưa đưa ra được các giải pháp triệt để khi trả lời chất vấn của các ĐB khác.

Đến khi Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu về vấn đề này, không ít ĐB “giật mình” khi biết được những năm tới, môi trường của tỉnh ta còn bị đe dọa nhiều hơn. Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, từ Đông Triều đến Mông Dương hiện nay và sắp tới sẽ có thêm nhiều dự án nhà máy xi măng, nhiệt điện được đầu tư xây dựng. Khoảng 5 đến 6 năm nữa, sản lượng xi măng có thể lên tới 7 triệu tấn mỗi năm, nếu các dự án này mở rộng giai đoạn 2 thì sẽ lên khoảng 17 triệu tấn/năm; còn nhiệt điện thì sẽ tăng lên 5.000MW/năm hoặc cao hơn. Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị HĐND tỉnh ghi vào nghị quyết từ nay không cấp phép thêm cho dự án xi măng, nhiệt điện nào nữa ở khu vực từ Đông Triều đến Mông Dương, nếu doanh nghiệp nào muốn thì đầu tư ở các huyện miền Đông của tỉnh.

Đền bù giải phóng mặt bằng phải đảm bảo quyền lợi của người dân

Giám đốc Sở Tài chính Nguyễn Văn Minh trả lời chất vấn của ĐB về việc UBND tỉnh đã áp dụng đơn giá đền bù, GPMB khi thu hồi đất theo Quyết định 4005/2004/QĐ-UB ngày 4-11-2004 cho năm 2007 là không hợp lý. Theo đó thì, từ khi có Quyết định 4005/2004/QĐ-UB, Sở Tài chính đã phối hợp với Sở TN&MT tham mưu cho UBND tỉnh ban hành nhiều quyết định bổ sung cho bộ đơn giá bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh, như: Bổ sung một số nội dung về mật độ tiêu chuẩn và bồi thường cây rừng; điều chỉnh, tăng đơn giá bồi thường di chuyển công trình xây dựng và thiết bị máy móc; bổ sung đơn giá bồi thường một số loại cây trồng; bổ sung đơn giá bồi thường một số tài sản trên đất là cây trồng và công trình xây dựng cơ bản... Đồng thời, khi các địa phương có vướng mắc về cơ chế, chính sách, đơn giá đền bù, GPMB đều được Sở Tài chính phối hợp tìm biện pháp tháo gỡ. Trong giải pháp cho công tác đền bù, GPMB năm 2007, giải trình chỉ rõ: Về đơn giá đền bù thì ngoài việc điều chỉnh hệ số kèm theo Quyết định 4005 và các văn bản bổ sung, Sở Tài chính và Sở Xây dựng đã và đang xây dựng phương án điều chỉnh, bổ sung báo cáo UBND tỉnh trong tháng 1-2008 đối với từng dự án có vướng mắc để tháo gỡ; về chính sách đền bù theo tinh thần Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25-5-2007, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng hoàn chỉnh dự thảo quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn sao cho phù hợp với các văn bản của T.Ư và Luật Đất đai năm 2003. Hiện nay, dự thảo chính sách bồi thường mới đã hoàn thành và gửi Bộ TN&MT, Bộ Tài chính, nhưng do 2 bộ này chưa có công văn trả lời nên chưa ban hành được quyết định.

ĐB Nguyễn Văn Hùng (Yên Hưng) cho rằng, hiện nay, đơn giá đền bù áp dụng như vậy vẫn là quá thiệt cho dân.

Cũng trong phiên trả lời chất vấn, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Thành  giải trình về việc phân bổ kinh phí đầu tư cho các xã thuộc chương trình 135 giai đoạn 2 trong kế hoạch năm 2007 không đạt mức T.Ư quy định. (860 triệu đồng/xã,  nhưng mới bố trí được 500 triệu đồng/xã). Giải trình chỉ rõ, bước vào kế hoạch năm 2007, trong điều kiện đầu tư lớn, nguồn vốn hạn hẹp, nên cuối năm 2006, khi cân đối vốn đầu tư để giao kế hoạch năm 2007, tỉnh mới tạm cân đối hỗ trợ cho 19 xã nghèo (hiện toàn tỉnh còn 30 xã thuộc chương trình 135, trong đó tỉnh hỗ trợ là 22 xã) mỗi xã 500 triệu đồng và dự kiến đến giữa năm 2007 khi có nguồn tăng thu bổ sung sẽ cân đối đủ. Song thực tế, tỉnh đã không bố trí thêm kinh phí cho các xã này. Nguyên nhân là do Sở Kế hoạch và Đầu tư khi tham mưu cho tỉnh về kế hoạch năm 2007 chưa dự báo chính xác được tình hình, nên đến hết tháng 10 năm nay vẫn chưa có nguồn để bổ sung. Để khắc phục tình trạng này, trong kế hoạch năm 2008, UBND tỉnh đã cân đối mức hỗ trợ cho mỗi xã là 1,06 tỷ đồng. Mặt khác, tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo đồng bộ các giải pháp như: Đẩy mạnh tăng trưởng về kinh tế, nâng cao đời sống cho người nghèo; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ về y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giảm nghèo... tạo điều kiện cho các xã trong chương trình 135 vươn lên thoát nghèo.

Vì sao Dự án đầu tư xây dựng sân vận động mới chậm được thực hiện?

Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Thành cũng đã giải trình về chậm thực hiện dự án đầu tư xây dựng Sân vận động tại Trung tâm thể thao tỉnh, công trình trọng điểm trong kế hoạch 2005-2010. Năm 2002, UBND tỉnh phê duyệt địa điểm xây dựng công trình tại khu lấn biển Cột 3, phường Hồng Hải (TP Hạ Long), diện tích 23,5ha; giao BQL dự án II là chủ đầu tư; tổng mức đầu tư phê duyệt từ năm 2005 là 254 tỷ đồng, nay được xác định lại là 660 tỷ đồng. Hàng năm, UBND tỉnh chỉ đạo Sở KH&ĐT, Sở Tài chính chủ động nguồn vốn, sẵn sàng cân đối kịp thời kinh phí theo đúng nhu cầu thực hiện của chủ đầu tư, song  tiến độ thực hiện dự án quá chậm so với kế hoạch. Nguyên nhân bởi công trình chưa được xác định trong hệ thống quy hoạch phát triển TDTT quốc gia, quá trình lập dự án phải xin ý kiến thỏa thuận của các bộ, ngành T.Ư phê duyệt; dự án được triển khai vào giai đoạn chuyển đổi cơ chế chính sách của nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng, dẫn đến công tác chuẩn bị đầu tư và thiết kế kỹ thuật phải điều chỉnh nhiều lần; công trình có quy mô kết cấu phức tạp, phải thuê tư vấn nước ngoài thực hiện. Tại thời điểm phê duyệt nhiệm vụ lập dự án nghiên cứu khả thi (năm 2004), do khó khăn về nguồn lực nên khống chế tổng mức dự kiến đầu tư khoảng 254 tỷ đồng, trong khi quy mô, công suất của công trình vẫn phải đảm bảo theo yêu cầu đặt ra, vì vậy đã không phản ánh đúng giá trị thực của dự án. Mặt khác, do thị trường trong và ngoài nước có nhiều biến động, dẫn đến tổng mức đầu tư tăng gấp 2,6 lần so với dự kiến, gây nhiều khó khăn trong triển khai xây dựng công trình. Công tác điều hành, chỉ đạo còn thiếu kiên quyết, các ngành chưa chủ động trong tham mưu v.v.. Giám đốc Sở KH&ĐT nêu ra một số giải pháp: Tổ chức đấu thầu gói thầu đầu tiên của dự án vào tháng 2-2008, các gói thầu còn lại sẽ được triển khai vào cuối năm 2008, dự kiến 2010 sẽ hoàn thành đưa công trình vào sử dụng. Kinh phí mỗi năm dành cho công trình cần từ 200-250 tỷ đồng; ngoài việc thực hiện tốt thu ngân sách để chi đầu tư phát triển năm 2008, sẽ huy động nguồn lực ngoài ngân sách để đầu tư vào các hạng mục phụ trợ có khả năng khai thác dịch vụ như: bãi đỗ xe, kiốt thương mại… Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, nâng cao trách nhiệm và sự phối hợp của các ngành trong thực hiện chức năng nhiệm vụ đối với dự án trọng điểm này.

Các ĐB Nguyễn Hùng Thắng (Đông Triều), Ngô Xuân Nhạc (Uông Bí) và Phạm Hải Đường (Trưởng Ban kinh tế-Ngân sách HĐND tỉnh) chất vấn, muốn làm rõ mấy vấn đề: Để tháng 2-2008 khởi công được dự án và năm 2010 sẽ hoàn thành công trình, đưa vào sử dụng cần phải đề ra các  biện pháp cụ thể hơn?  Việc chậm thi công công trình ở đây không phải do thiếu vốn mà do việc điều hành, trách nhiệm này thuộc về ai phải làm rõ? Theo giải trình để năm 2010 công trình hoàn thành thì mỗi năm địa phương phải bố trí từ 200-250 tỷ đồng, trong khi đó nguồn ngân sách của tỉnh hàng năm bố trí cho các dự án trên địa bàn chỉ khoảng từ 400-500 tỷ đồng. Trả lời những vấn đề này, Chủ tọa kỳ họp cho rằng đồng chí Giám đốc Sở KH&ĐT mới nhận nhiệm vụ chưa nắm rõ tình hình nên mời Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Nguyên Nhiệm trả lời thay. Trước khi trả lời, Chủ tịch UBND tỉnh nói rõ: tôi xin nhận trách nhiệm và khuyết điểm trước HĐND tỉnh, cử tri về công tác điều hành, chỉ đạo chưa kiên quyết; đồng chí phụ trách lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản phải chịu trách nhiệm trực tiếp. Còn giải pháp tới đây sẽ như thế nào, chúng tôi đã báo cáo BTV Tỉnh ủy đầu tư nguồn vốn tập trung để sớm khởi công dự án. Năm 2008 sẽ xong phần móng. Sau đó sẽ tiến hành các hạng mục còn lại, cố gắng hoàn thành SVĐ này vào năm 2010. Cơ quan tư vấn sau khi đề xuất dự án quy hoạch tổng thể Sân vận động mới ở Cột 3, báo cáo với tỉnh được lập dự án xây dựng Trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng cho thuê ở Sân vận động cũ. Nếu không thực hiện được, chúng tôi sẽ cho tiến hành đấu thầu đất đai, vật kiến trúc ở SVĐ cũ để lấy nguồn vốn xây dựng Sân vận động mới...

Cùng chuyên mục