Cách cầu Chanh chừng 17km về hướng đông nam, chùa Lái toạ lạc giữa cánh đồng chùa, thuộc thôn Vị Khê, xã Liên Vị, huyện Yên Hưng. Đây là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Hà Nam còn lại đến ngày nay đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2000.
Trong tổng số 7 tấm bia đá xanh dựng phía sau chùa Lái, có một tấm bia đã được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm cả về nội dung lẫn điêu khắc và được xem là cơ sở để nghiên cứu về kiến trúc phật giáo ở vùng đất này. Tấm bia đá mà tôi muốn giới thiệu ở đây có tiêu đề “Linh Ngai tự bi ký” (văn bia chùa Linh Ngai), dựng ngày 20 tháng Giêng năm Hưng Trị thứ 2 (1589) triều vua Mạc Mậu Hợp, do Hiệu Sinh bản phủ Nguyễn Thời Ngộ soạn, tốp thí chủ xã Gia Đức thực hiện. Bia cao 102cm, rộng 60cm, dày 15cm, trán bia có hình bán nguyệt, chạm khắc công phu tỷ mỷ hình rồng và các hoạ tiết hoa văn mang đặc trưng riêng của thời Mạc.
Theo Giáo sư Trần Lâm Biền thì thời Mạc là thời kỳ bùng nổ của di tích, của kiến trúc mỹ thuật, các di tích thời Mạc đã phát triển ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ, ven biển và các triền sông... Do không kiểm soát được chặt chẽ từ triều đình xuống, các nghệ nhân tự do sáng tác nên hình tượng rồng thời kỳ này đã phát triển mạnh mẽ, có nhiều dạng khác nhau ra đời. Thân rồng trên trán bia ở đây không mập như rồng thời Trần mà mảnh và dài như rồng thời Lý, chân dài và mập, có hai móng phía trước và một móng phía sau, uốn lượn tự do, khúc to, khúc nhỏ không theo một trật tự như rồng các thời trước đuôi rồng vút lên, có lông và kết lại thành hình lá, các vẩy rồng tròn nổi khối chạy dần về phía đuôi. Đầu rồng mập hơn so với thân và mang phong cách của rồng thời Lê Sơ như mắt quỷ, miệng sói, mũi sư tử, râu cá trê, sừng nai... xung quanh rồng là những điểm xuyết mây cuộn uốn lượn tròn hai đầu và có đao mác bay ra hai bên. Đây là những chi tiết đặc biệt dễ nhận biết nhất của rồng thời Mạc. Càng quan sát kỹ đôi rồng ta có cảm tưởng như chúng đang thoả sức vờn mây nhưng lại thật hung dữ trong biểu hiện sức mạnh của uy quyền. Hai bên diềm bia là các hoạ tiết hoa văn nối nhau, điểm xuyết đám mây cuộn, đây là những biểu tượng của sấm gọi gió, mây, mưa, chớp... cầu mong cho mưa thuận gió hoà. Dù ở trong tư thế nào chăng nữa thì toàn bộ hình rồng và các hoạ tiết trang trí vẫn toát lên ý nguyện về nông nghiệp. Bia được mài nhẵn hai mặt nhưng chỉ viết chữ một mặt. Mặt trước khắc nổi 5 chữ là tên tiêu đề của bia. Xen kẽ các chữ này là hai bông hoa cúc mãn khai và hai bông hoa sen cách điệu. Căn cứ vào nội dung văn bia (đã dịch ra tiếng Việt) thì chùa Lái có tên chữ là “Linh Ngai tự” (chùa Linh Ngai) “chùa có tên gọi là Linh Ngai, toạ lạc trên đất Linh Ngai, thôn Vị Khê, xã Vị Dương, huyện An Hưng”. Linh ở đây có nghĩa là linh thiêng, Ngai là thế tay ngai. Quan sát vùng đất này thì thấy hai chữ Linh Ngai được xuất phát từ địa thế của dòng sông Ván chia thành hai dòng sông Cái Đỗng và sông Vị Khê như thể tay ngai vững chắc ôm trọn vùng đất có ngôi chùa toạ lạc gọi là xứ Linh Ngai. Lái là tên gọi của làng Lái (lái thuyền). Chùa được khởi công xây dựng từ bao giờ thì không rõ, nhưng chắc chắn đây phải là công trình có quy mô rộng lớn, thâm u tĩnh mịch, có sự đồng lòng góp sức của dân làng, sự ủng hộ của triều đình và được coi là biểu tượng của sự giàu có của đất nước, là danh lam quan trọng của vùng đất Hải Đông: “Xưa kia cổ nhân đã dựng chùa, cấy ruộng, bốn phía xung quanh là ruộng phật, trúc mọc tốt tươi như đường dẫn tới bát nhã, từ vua đến dân đều ủng hộ, là vẻ giàu có vững vàng của đất nước, là thắng cảnh quan trọng của đất Hải Đông”. Đến thời Mạc (1589) chùa cũ bị hỏng, các hội chủ sỹ ni và các tín thí hai xã Vị Dương, Lưu Khê một cùng nhà nho danh tiếng ở Côn Sơn đồng lòng góp sức trùng tu, tôn tạo khang trang tượng phật tôn nghiêm, nhân dân kính thờ và được tính từ đó trở đi. Lúc này chùa Lái không chỉ nổi tiếng ở đất Hải Đông mà là danh lam quan trọng của nước Việt Nam. “Thấy danh lam cũ đã hỏng, ai đi qua cũng lưu tâm, ai nhìn thấy cũng muốn góp thiện. Nay hội chủ sỹ ni và các tín thí hai xã Vị Dương, Lưu Khê cùng một nhà nho danh tiếng ở Côn Sơn đồng lòng góp sức tiến hành trùng tu, tạo tác 12 pho tượng phật... Sau khi xây dựng lại, chùa Linh Ngai tráng lệ, tượng phật tôn nghiêm, nhân dân kính thờ và được tính từ đó trở đi. Đây là bờ cõi rộng lớn ở trấn tây, là thắng cảnh quan trọng của nước Nam...”. Vậy cứ theo văn bia mà suy thì chùa Lái phải có trước năm trùng tu (1589) ít nhất gần 100 năm. Sau khi vùng đất Hà Nam được hình thành (năm 1434), hơn 50 năm sau (khoảng năm 1500), con người và vùng đất nơi đây đã trở nên đông đúc giàu có, người ta đã nghĩ đến việc xây dựng chùa để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh. Cho đến nay mặc dù thời gian đã làm cho cảnh cũ, chùa xưa thay đổi nhiều nhưng chùa Lái vẫn giữ được nét cổ kính của ngôi chùa cổ và lưu giữ được 125 di vật, cổ vật, trong đó có 1 tấm bia đá thời Mạc (đã giới thiệu ở trên), 1 cây hương đá thời Lê năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716), 6 tấm bia đá thời Nguyễn ghi lại các lần trùng tu chùa vào các năm Thành Thái thứ 9 (1897), Thành Thái thứ 19 (1907), Khải Định thứ 3 (1918), Khải Định thứ 10 (1925), Bảo Đại thứ 3 (1928), 34 pho tượng gỗ tạc vào thời Nguyễn, 1 toà cửu long bằng đồng, 1 chuông đồng to thời Nguyễn đúc năm Thành Thái thứ 19 (1907) và nhiều đồ thờ tự khác có giá trị. Hiện nay chùa Lái đang bị xuống cấp nghiêm trọng, toàn bộ phần mái đã bị trũng hỏng gây dột nhiều chỗ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tượng phật. Toàn bộ bia đá chưa có mái che, hàng ngày vẫn phải chịu sự tác động không nhỏ của mưa nắng. Đây là di tích có giá trị, cần có những phương án để bảo vệ, giữ gìn và phát huy những di sản văn hoá vô giá này.