Các cuộc điều tra dư luận trên khắp thế giới đều cho một kết quả: con số những người tin vào ma quỷ, gọi hồn đang có xu hướng gia tăng. Gần một nửa cư dân của hành tinh chúng ta tin vào chuyện đó.
Cứ mười người dân châu Âu thì có một người nói rằng họ đã ít nhất một lần trong đời gặp ma hoặc nghe nói đến ma. Tại Ba Lan, theo kết quả điều tra năm 1997, có tới 24% người dân nước này tin vào khả năng liên hệ giữa người sống với người chết, còn 12% khẳng định đã gặp ma ít nhất một lần trong đời.
Cứ hai người đàn ông và ba người phụ nữ thì có một người thừa nhận mình sợ ma. Kỷ lục về số người tin vào những chuyện lẽ ra không nên tin thuộc về nước Mỹ. Các cuộc điều tra dư luận tiến hành cách đây hai năm ở Mỹ cho thấy: Hơn 65% dân chúng thú nhận mình quan tâm đến các vấn đề như đầu thai trở lại, gọi hồn, năng lượng bí hiểm, sức mạnh siêu nhiên, cận tâm lý học.
Giải thích nguồn gốc hiện tượng này, nhà xã hội học Ba Lan, ông Andrzej Samson nói: "Đây là kết quả cách giáo dục của các tôn giáo và sự khủng hoảng niềm tin với khoa học. Hầu như tất cả các tín ngưỡng đều tìm cách nhồi vào đầu con người, từ khi còn bé, rằng nhất định có sự sống sau cái chết, rằng sự tồn tại "thế giới bên kia" là tất nhiên.
Lý do thứ hai là sự khủng hoảng thế giới quan trong thời hiện đại. Khoa học tỏ ra bất lực với vai trò đem lại hạnh phúc cho con người cũng như trong việc giải quyết đến cùng các vấn đề xã hội như nạn đói, bệnh tật, tăng dân số, ngăn chặn bạo lực, chiến tranh...
Thời điểm kết thúc thế kỷ XX được đánh dấu bằng hiện tượng một số người quay lưng lại với khoa học để tìm những cách giải quyết tiêu cực, mà một trong những biểu hiện là lý thuyết về các thế giới song song tồn tại do chính các nhà vật lý nêu ra, hay là lý luận về những năng lượng bí ẩn không thể giải thích được.
Yếu tố thứ ba có nguồn gốc từ việc con người khi mới sinh ra đã không ít thì nhiều được nghe, được đọc về điều kỳ diệu, bí ẩn mang tính cổ tích, huyền thoại, cho nên cả quãng đời sau đó luôn mơ ước "nếu như"... Vì vậy chúng ta sẵn sàng tin vào sự tồn tại của ma quỷ, của sức mạnh bí ẩn, tin vào những người biết cách nói chuyện với ma, thậm chí sai khiến ma phục vụ cho công việc của mình, từ chữa các bệnh đến tác động để cây cối sinh trưởng nhanh hơn".
Nhà tâm lý học Jacek Santorski cũng giải thích tương tự: "chúng ta, với tư cách con người, có thể rất chín chắn, trưởng thành về khoa học công nghệ, nhưng thật khó nói là chúng ta đã trưởng thành về mặt tình cảm. Trong chúng ta luôn tồn tại nhu cầu muốn dựa vào điều kỳ diệu nào đó, nhất là khi bất lực trước số phận, trước bệnh tật và cái chết.
Từ bao đời nay con người luôn tin vào sự tồn tại của hồn sau cái chết
Nhìn từ góc độ tâm lý học, có thể công nhận niềm tin vào những hiện tượng siêu nhiên, trong đó có tin vào ma quỷ, là cơ chế tự nhiên để tự vệ của con người, tức là tin vào tất cả những gì cho phép con người có được cảm giác yên tâm".
Bên cạnh quan điểm chủ đạo cho rằng thế giới chúng ta đang sống, tức là cái thế giới con người cảm nhận được qua các giác quan và trí tuệ, là thế giới duy nhất, nhiều nhà khoa học vẫn muốn tin theo hướng siêu hình. Mà cũng không chỉ có các nhà vật lý học hiện đại. Các nhà thiên tài khoa học như Anbert Einstein, Maria Curie - Klodowska, Isaak Newton cũng đã quan tâm một cách nghiêm túc tới sự tồn tại "thế giới bên kia" hay thần linh ma quỷ.
Newton thậm chí còn là hội viên Hội thần linh của Hoàng gia Anh, thừa nhận sự tồn tại sức mạnh siêu nhiên và ông tin rằng một khi đem đốt sừng của con hươu một sừng, lấy than rắc thành vòng tròn, cho con nhện vào, thì con nhện đó sẽ bị một sức mạnh bí hiểm giữ chặt lại trong cái vòng than mỏng manh ấy.
Các nhà vật lý thời hiện đại cũng có quan điểm không dứt khoát về siêu hình học. "Càng đi sâu vào tự nhiên của vật chất, mọi cái càng trở nên bí hiểm" - như lời bộc bạch của ông Tomasz Jaworski, Viện Vật lý thuộc Viện hàn lâm khoa học Ba Lan. Nhiều nhà vật lý cũng khẳng định rằng việc tìm kiếm cái gọi là lý thuyết chung có khả năng thống nhất mọi hiện tượng vật lý và tìm cách giải thích chúng sao cho thuyết phục, hay nói cách khác là tìm chìa khóa vàng để mở tung tất cả những bí mật của thế giới, nói chung cũng giống như đi tìm Thượng đế.
Theo kết quả điều tra xã hội học, giữa trình độ văn hóa và niềm tin vào "thế giới bên kia" không phải lúc nào cũng liên quan với nhau một cách rõ ràng. Tất nhiên ở những người có vốn kiến thức hàn lâm về các lĩnh vực như xã hội học, tâm lý học hay y học, mức độ tin vào những điều không có sơ sở để tin, chắc chắn hạn chế phần nào.
Tuy vậy, cảm giác bất hạnh, thất vọng, mất phương hướng, bất lực trước những "bản án" của số phận là những yếu tố khiến con người càng ngày dễ tin vào những điều bị coi là nhảm nhí. Khi một người bị nỗi lo đè nặng trong lòng, mong muốn bám lấy một cái gì đó, bất kể đây là ông Trời, thầy lang hay những điều phi lý khác, là việc làm dễ hiểu.
Những người thừa nhận mình tin vào hồn ma là những người thường tin rằng "hồn ma" là linh hồn những người đã chết nhưng vẫn có khả năng liên hệ với thế giới những người đang sống. Quan điểm của các tín ngưỡng khác nhau cũng như các nhà nghiên cứu hiện tượng bất thường này còn rất khác nhau, nhất là về khả năng tồn tại mối liên hệ đó.
Nhà thờ Thiên chúa giáo coi linh hồn là phần phi vật chất của con người, là nguồn gốc ý thức, trí tuệ và ý chí tự do, đồng thời cũng là cái bất tử - khi con người chết đi, hồn lìa khỏi xác và chờ dịp trở lại sau sự phục sinh. Các nhà thần học không mấy lạc quan về khả năng tồn tại mối liên hệ giữa thế giới những người đã chết với dương gian, song họ thừa nhận sự tồn tại hữu hình của ma quỷ, nhất là linh hồn của những người đã sống không trong sạch.
Những người thừa nhận sự tồn tại của hồn ma coi chúng là yếu tố cốt lõi mang tính cá nhân, bị nhốt trong thân xác và chỉ được tự do sau khi con người lìa đời.
Từ bao đời nay con người luôn tin vào sự tồn tại của hồn sau cái chết, bất kể nó được nhập vào cơ thể khác hay tồn tại tự do ở thế giới bên kia. Còn có một niềm tin rất cổ cho rằng liên hệ với hồn người chết là con đường để nhận ra thế giới bên ngoài ngôi mộ. Có điều lý thú là các cuộc thăm viếng của những "vị khách" từ âm phủ lên thường được miêu tả khá giống nhau trong những câu chuyện kể của các tác giả khác nhau về thời đại và vị trí địa lý.
Nhà văn La Mã có tên là Suria đã viết rằng cứ vào ban đêm, tại ngôi nhà ông đang ở, lại xuất hiện một bóng ma có hình dáng giống như một cụ già gầy yếu, tiều tụy do thiếu ăn, bộ râu dài buông thõng, tóc dựng đứng. Ông già bị xích cả chân lẫn tay, khi di chuyển, dây xích kêu loảng xoảng. Những người xung quanh vừa buồn vừa sợ, đêm này qua đêm khác không sao chợp mắt được.
Bóng ma đấy làm dân chúng hoang mang, cho đến khi chính nó mách bảo mọi người về nơi chôn cất người đàn ông bị xích chân tay. Sau khi đào bộ xương lên và đem táng nơi khác, ngôi nhà của Pliniusz lập tức hết ma.
Những câu chuyện kể của các nhân chứng về cuộc gặp gỡ giữa người và ma nói chung có nội dung tương tự như nhau: Ma luôn thông báo sự có mặt của mình bằng cách dịch đồ đạc trong nhà, bật đèn, gây tiếng động, huýt sáo, xuất hiện mờ mờ, ảo ảo, không phải ai cũng nhìn rõ, nhưng mục đích chủ yếu của ma là biểu diễn sự tồn tại của mình luôn đạt được.
Theo các "chuyên gia" thông thạo trong lĩnh vực này, hồn thường hiện về một cách tự nguyện, song đôi khi cũng có thể gọi chúng đến. Chuyện gọi hồn cũng đã được nói đến trong Kinh thánh. Phương pháp để dẫn các vị khách từ âm phủ về đã được biết đến từ khá lâu.
Quan trọng nhất là phải có một người thiên phú cho khả năng đặc biệt, thường gọi là medium, làm trung gian cho hai "thế giới". Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, các buổi lên đồng gọi hồn đã diễn ra, thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, các chuyên gia của ngành khoa học tự nhiên.
Hàng loạt "biên bản" ghi lại các buổi lên đồng như vậy, có chữ ký của các nhà khoa học, vẫn còn lưu lại, được giữ cẩn thận. Trường hợp Marthe Beraud tên thật là Eva Carriere (1880-?) xuất hiện dưới tên Eva C., đã gây sự chú ý đến các nhà khoa học nghiên cứu và được miêu tả tỷ mỷ. Tài năng của bà được nhiều nhân chứng xác nhận.
Khi lên đồng, từ các huyệt trên cơ thể Eva C. Bốc lên những dải như sương, và trong làn sương lờ mờ đó, những người tham dự nhìn thấy hiện lên những khuôn mặt, những dáng hình, mỗi lúc một rõ hơn. Hiện tượng Eva C. thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, đến nỗi trước mỗi cuộc lên đồng họ tiến hành khám xét, kiểm tra quần áo mặc trên người rất kỹ, với hy vọng sẽ loại bỏ những thủ thuật lừa đảo.
Có hay không sự tồn tại của hồn ma vẫn là 1 điều bí ẩn mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra có 1 đáp nào chính xác
Sau một thời gian dài nghiên cứu, giáo sư Charles Rochet đã kết luận, trên cơ sơ khoa học, nguồn gốc "làn sương" bốc lên từ cơ thể Eva C., miêu tả tỷ mỷ cấu tạo và cơ chế hoạt động của nó. Tuy vậy kết luận này không làm giảm bớt sự quan tâm của mọi người đối với các buổi lên đồng.
Nhà thờ Thiên chúa giáo không có phát biểu chính thức về sự xuất hiện hình ảnh người chết trong các buổi lên đồng, song hết sức nghiêm cấm con chiên tham dự. Những người theo thuyết ma quỷ thì coi hồn ma là phần hồn của những người đã chết. Các nhà cận tâm lý học cho rằng sự xuất hiện hồn ma trong các buổi lên đồng là chuyện dễ hiểu, nhưng lại giải thích rằng nguồn gốc của chúng là khả năng đặc biệt của các medium.
Họ không nói đến hồn ma mà nói đến ý thức và năng lượng tâm lý với tư cách những hình thức thống nhất năng lượng ở trình độ phát triển cao. Song quen thuộc nhất vẫn là giả thuyết có tên là ideoplastia, cho rằng một số người có khả năng hiện thực hóa sự tưởng tượng thành những nhân vật phù hợp với trạng thái tinh thần và những tác động năng lượng có thể biến thành hình thức vật chất, nghĩa là biến thành hồn ma.
Họ thường đạt tới trình độ này khi năng lượng tâm lý lên tới đỉnh điểm của sự tập trung. Nhiều người cho rằng những hình ảnh có thể nhìn thấy được trong các buổi lên đồng là một ảo giác mất tập trung hình thành do có sự liên hệ giữa người lên đồng với những người đang bị khủng hoảng về tâm lý.
Từ rất xa xưa con người đã tin vào chuyện hồn ma thăm lại người sống ít nhất là vài lần trong năm. Người ta cũng tin rằng hồn ma có ảnh hưởng lớn đến số phận những người đang sống. Có nhiều cách để "lấy lòng" ma. Chẳng hạn như tổ chức lễ hội dành riêng cho những người đã chết. Hy Lạp và La Mã cổ đại có các hình thức tế lễ phong phú, mấy lần trong một năm và không thiếu thủ tục đốt lửa.
Các nhà nghiên cứu văn hóa cũng như các nhà xã hội học đều khẳng định rằng sức sống của những niềm tin vào hồn ma bóng quỷ, vào thế giới bên kia xuất phát từ sự khủng hoảng mỗi ngày trầm trọng vào niềm tin vào các nhân tố vốn được thần tượng và vào khoa học. Cùng với sự mở rộng hiểu biết của chúng ta về thế giới chúng ta đang sống trong thời đại thông tin toàn cầu hóa, khu vực về những điều chưa biết về thế giới ấy cũng không hề bị thu hẹp lại.
Đó là cách giải thích của giáo sư Roch Suliman, nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng. Con người luôn mong muốn có một cảm giác về điều bí ẩn. Nếu có lúc nào đó chúng ta khẳng định rằng chúng ta biết tất cả mọi điều, chúng ta sẽ cảm thấy mình như những người mù.
Thế giới được nhìn nhận từ góc độ kinh nghiệm hàng ngày bao giờ cũng có mặt thứ hai của nó - tức là có thế giới bên này và thế giới bên kia. Đã một thời, sự tiếp xúc với thế giới bên kia, đúng hơn là với các sứ giả của nó, lại trở thành nhu cầu của văn hóa quần chúng.