Năm qua, trước tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các doanh nghiệp, đặc biệt là Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) thực hiện các giải pháp phòng ngừa TNLĐ.
ảnh: Mạnh Hùng (CTV)
Theo đó, các giải pháp được xác định là: Tăng cường công tác tuyên truyền, huấn luyện an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) cho người lao động và người sử dụng lao động; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra an toàn lao động, chủ yếu hướng vào các doanh nghiệp có nhiều nguy cơ xảy ra TNLĐ, những người không đạt phải tổ chức học và sát hạch lại; thường xuyên thông báo tình hình TNLĐ chết người trên địa bàn tỉnh cho các cơ quan, doanh nghiệp để tự liên hệ rút kinh nghiệm. Qua đó, công tác huấn luyện đã được cải tiến nội dung và tăng cường cả về số lượng, phù hợp với đối tượng được huấn luyện. Trong năm 2006 Sở LĐTB&XH đã phối hợp với Cục An toàn Lao động tổ chức 40 lớp tập huấnan toàn lao động cho 2.977 đối tượng là người sử dụng lao động, người làm công tác AT - BHLĐ tại các đơn vị;huấn luyện ATLĐ trong quản lý và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho 187 người. Cùng đó các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức hàng trăm lớp huấn luyện cho hầu hết cán bộ, công nhân theo quy định... Song song với những việc trên, việc thực hiện các qui định pháp luật về an toàn lao động được triển khai tương đối bài bản và nền nếp trên một số lĩnh vực: Hồ sơ, sổ sách quản lý, công tác huấn luyện an toàn định kỳ; công tác tự kiểm tra về an toàn lao động; chú trọng nhiều đến chất lượng trong quá trình nghiệm thu sản phẩm, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho nên nhiều sai sót đã được chấn chỉnh kịp thời. Tại các công trường, phân xưởng, đội sản xuất đã được trang bị tương đối đầy đủ hồ sơ thiết kế kỹ thuật, qui trình, biện pháp thi công cần thiết, các loại sổ sách phục vụ công tác quản lý và chỉ đạo điều hành sản xuất ghi chép cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị việc triển khai công tác AT-VSLĐ chưa đồng bộ, chưa tạo thành nếp; hệ thống sổ sách quản lý và điều hành sản xuất tại hiện trường còn thiếu và sơ sài; thực hiện công tác huấn luyện an toàn chưa đầy đủ; sử dụng lao động còn tuỳ tiện, nhất là tại các cơ sở khai thác đá. Mặc dù có sự cố gắng và quan tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp song tình hình tai nạn lao động trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là tai nạn lao động chết người vẫn xảy ra nghiêm trọng (tất cả các dạng nguy cơ lớn như: cháy nổ khí, bục nước, sập đổ lò trên diện rộng đều đã xảy ra) và có xu hướng gia tăng, khó kiểm soát. Trong năm 2006 trên địa bàn tỉnh xảy ra 253 vụ tai nạn lao động làm 306 người bị nạn; trong đó có 41 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm chết 59 người; có 9 vụ làm chết từ 2 người trở lên (tăng 20% số vụ và 40% số người chết so với năm 2005); trong đó riêng các doanh nghiệp thuộc TKV xảy ra 33 vụ tai nạn lao động chết người làm chết 50 người (tăng 27% số vụ và 47% số người chết). Cơ sở để xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người là Công ty Than Quang Hanh (5 vụ chết 7 người); Công ty Than Nam Mẫu (4 vụ 4 người chết); Công ty Than Vàng Danh (3 vụ chết 4 người); Công ty Than Mạo Khê (3 vụ chết 3 người). Đoàn điều tra tai nạn lao động tỉnh đã kết luận và yêu cầu các đơn vị thực hiện 227 kiến nghị; xử lý kỷ luật 286 người (trong đó có: 27 giám đốc, phó giám đốc; 59 trưởng, phó phòng, ban; 50 cán bộ phòng, ban; 84 chánh phó quản đốc; 32 lò trưởng, tổ trưởng sản xuất và 34 công nhân); xử phạt hành chính 5 đơn vị; đề nghị cơ quan pháp luật xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự 2 vụ (Xí nghiệp Xây lắp & SX Than Khe Chàm II nay là Xí nghiệp Than Cẩm Thành và Công ty Than Thống Nhất).
Có thể nói nguyên nhân để xảy ra các vụ tai nạn lao động trong năm 2006 vẫn là do ý thức và trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp về công tác AT-VSLĐ chưa đồng đều; công nhân vi phạm quy trình kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm chủ quan tự gây tai nạn cho bản thân đồng thời cán bộ chỉ huy trực tiếp sản xuất chưa sâu sát, không thường xuyên kiểm tra tại các vị trí làm việc... Công tác tuyên truyền, huấn luyện các quy định pháp luật về AT-VS LĐ nhiều nơi vẫn chỉ mang tính hình thức đặc biệt là ở cấp phân xưởng, tổ sản xuất và để nâng cao năng suất không ít người lao động đã chủ quan làm bừa, làm ẩu, bớt xén quy trình, không tuân thủ đầy đủ các biện pháp kỹ thuật an toàn. Hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, tự kiểm tra về ATLĐ còn mang tính hình thức hoặc do nghiệp vụ kém nên không phát hiện được các vi phạm hoặc có nhưng nể nang xử lý chưa nghiêm túc, thiếu kiên quyết.
Để thực hiện tốt công tác AT-VSLĐ các cấp, ngành, doanh nghiệp, đơn vị cần đẩy mạnh việc phòng ngừa tai nạn lao động hơn nữa. Tổng kiểm tra, rà soát tất cả các vị trí sản xuất để xác định rõ, đề ra và thực hiện biện pháp phòng tránh các nguy cơ gây tai nạn lao động và thảm hoạ, đặc biệt là các nguy cơ sập đổ lò, cháy nổ khí, bục nước, bục bùn, cháy nổ vật liệu nổ công nghiệp, điện giật, sự cố phương tiện vận tải. Kiên quyết dừng sản xuất đối với tất cả các vị trí khi chưa chắc chắn kiểm soát được nguy cơ cháy nổ khí và bục nước. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phòng tránh tai nạn lao động; nếu để xảy ra thảm hoạ dù với bất cứ nguyên nhân nào thì Giám đốc đơn vị phải từ chức. Công tác tuyên truyền giáo dục, huấn luyện phải mang tính thường xuyên, liên tục, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, tập trung nhiều hơn đến người lao động và cán bộ trực tiếp chỉ huy, điều hành sản xuất. Coi trọng công tác triển khai, hướng dẫn biện pháp thi công cho người lao động. Tránh tình trạng khi xảy ra tai nạn lao động ở một lĩnh vực nào đó thì tập trung thái quá vào lĩnh vực đó, sau đó một thời gian không xảy ra thì sinh tư tưởng chủ quan, lơ là. Bổ sung, hoàn thiện đầy đủ, đảm bảo chất lượng tài liệu trắc địa, địa chất phục vụ khai thác mỏ; đặc biệt phục vụ việc khoanh vùng, dự báo các nguy cơ và các biến động địa chất ảnh hưởng đếnđiều kiện sản xuất. Quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là lực lượng thợ lò, thợ cơ điện, cán bộ chỉ huy điều hành sản xuất, cán bộ giám sát an toàn.