Vì sao tồn tại một lượng lớn than “trôi nổi”?

Thời gian này, dư luận đặc biệt quan tâm đến việc chưa đầy một tuần (từ ngày 8 đến 14-4), BĐBP tỉnh đã  tạm giữ 102 tàu vận chuyển trên 100 ngàn tấn than không rõ nguồn gốc. Dư luận đặt câu hỏi: Vậy từ nhiều năm qua, có bao nhiêu phương tiện vận chuyển than trót lọt qua biên giới? Phải chăng các cơ quan chức năng trên địa bàn chưa làm hết trách nhiệm?

>>Bạn đọc nói về than trái phép

Chưa quản lý được nguồn than sản xuất?

Vì sao tồn tại một lượng lớn than “trôi nổi”? ảnh 1

Tàu chở than chưa rõ nguồn gốc bị tạm giữ tại Hải Đội II BĐBP

Có thể nhận thấy, tình trạng khai thác than trái phép trên địa bàn tỉnh  trong thời gian qua đã và đang diễn biến hết sức phức tạp, không chỉ ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý tài nguyên, huỷ hoại môi trường mà còn làm phát sinh các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự. Trước thực trạng đó, từ nhiều năm nay, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và các địa phương thường xuyên mở các đợt cao điểm ra quân triệt phá các lò khai thác, điểm thu gom, vận chuyển, kinh doanh than trái phép. Chỉ tính riêng trên địa bàn TP Hạ Long, từ ngày 15-3 đến 10-4-2008, các cơ quan chức năng đã lập biên bản đình chỉ, đánh sập, san lấp 72 lượt điểm tái khai thác; đình chỉ, xoá 65 lượt điểm thu gom, sàng, rửa than trái phép; tạm giữ  91 xe ô tô, trên 30 xe mô tô và 1 tàu vận chuyển than cùng nhiều phương tiện phục vụ cho việc khai thác, chế biến than trái phép; thu giữ gần 3.000 tấn than các loại. Trên địa bàn TX Cẩm Phả, từ ngày 1-12-2007 đến 10-4-2008, các cơ quan chức năng đã xử lý 128 trường hợp vi phạm, giữ 6 tàu vận chuyển than, 4 máy xúc, 5 ô tô, thu giữ 11.239,2 tấn than trái phép các loại.

Có một thực tế là, do thu nhập từ khai thác than trái phép rất lớn, nên từ nhiều năm nay, tình trạng khai thác than trái phép chỉ tạm lắng xuống khi có đợt cao điểm ra quân của các lực lượng chức năng. Như tình trạng khai thác than trái phép ở xã Hồng Thái Tây (Đông Triều), Báo Quảng Ninh đã phản ánh hồi đầu tháng 11-2007, vậy mà  đến cuối tháng 3-2008 khi  trở lại, thấy tình trạng khai thác than trái phép còn diễn ra càng phức tạp hơn, quy mô lớn hơn, vào ban đêm từng đoàn xe nối đuôi nhau công khai chở than từ khu vực Khe Ươn 1, Khe Ươn 2 ra quốc lộ 18A.

Thực tế là đến nay, chưa xác định được lượng than mà các lò, các khu vực lộ thiên khai thác trái phép mỗi ngày là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không quá lớn. Bởi số lượng lò “thổ phỉ” trên địa bàn có thể đếm được trên đầu ngón tay, lại khai thác trong điều kiện thô sơ “chớp nhoáng”. Trong hơn 4 tháng (từ ngày 1-12-2007 đến 10-4-2008) tại địa bàn TX Cẩm Phả  chỉ đánh sập được 2 cửa lò và 5 vụ khai thác lộ thiên, thu giữ 54 tấn than nguyên khai... Vậy vấn đề đặt ra là, than ở đâu mà chỉ trong gần 1 tuần BĐBP tỉnh đã tạm giữ được những trên 100 ngàn tấn than? Qua tìm hiểu ở một số địa phương, hiện nay hầu hết các khu vực có tài nguyên than đều đã được giao cho các đơn vị thuộc TKV quản lý, vì thế, không dễ gì một xe than có thể lọt qua được các cổng, trạm của những doanh nghiệp này... Vậy nguồn than trôi nổi không rõ nguồn gốc từ đâu mà có? Điều này chỉ những cơ quan chức năng mới có thể trả lời. Được biết theo báo cáo của cơ quan chức năng TP Hạ Long thì hiện nay, trên địa bàn thành phố chỉ có 15 doanh nghiệp thuộc TKV mà có tới 55 doanh nghiệp ngoài  ngành Than được phép khai thác, vận chuyển, kinh doanh than. Phải chăng đây chính là “lỗ hổng” để  tuồn than ra ngoài bằng nhiều cách khác nhau. Có một thực tế là lợi dụng chủ trương phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, một số doanh nghiệp ngoài TKV thấy khu vực nào có than thì lập dự án phát triển lâm nghiệp. Sau khi đã được các cấp có thẩm quyền cho phép, chủ doanh nghiệp này bằng cách này, cách khác “phù phép” biến dự án này thành... dự án khai thác than. Một số doanh nghiệp thuộc TKV có dự án hợp đồng với doanh nghiệp bên ngoài vào khai thác, vận chuyển, bốc xúc đất đá... nhưng trả bằng than hoặc chia tỷ lệ khai thác. Đây có thể coi là kẽ hở lớn nhất để móc ngoặc, tuồn than ra ngoài. Vì nhiều doanh nghiệp có tư cách khai thác, vận chuyển, chế biến, thậm chí xuất khẩu than tiểu ngạch, nhưng chỉ “kinh doanh giấy phép”, nghĩa là bán lại quyền xuất khẩu than để hưởng “hoa hồng”.

 ... Quản lý khâu vận chuyển, chế biến, tiêu thụ còn bỏ ngỏ?

Than đến tay người tiêu dùng sẽ phải qua 4 công đoạn. Đó là khai thác, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ bao gồm cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa). Thực tế những năm trước, dường như chưa bao giờ các cơ quan chức năng của tỉnh cùng lúc kiểm tra cả 4 quá trình này, bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. ở đây chúng tôi chỉ xin nói đến những khó khăn, bất cập trong việc tuần tra, kiểm soát trên biển của lực lượng chức năng. Chỉ tính từ năm 2006, khi Bộ Tài chính có Quyết định 67/2006/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung thuế xuất khẩu một số nhóm mặt hàng, trong đó có việc nâng thuế xuất than từ 0% lên 10% thì tình hình vận chuyển, buôn bán than trái phép trên biển có chiều hướng gia tăng. Nhiều đối tượng đã lợi dụng uy tín của những doanh nghiệp được miễn kiểm tra hàng khi thông quan (luồng xanh) để dùng hồ sơ quay vòng hợp thức hoá nguồn gốc về hàng hoá hoặc khai báo sai số lượng, chủng loại để trốn thuế. Một số đối tượng buôn lậu than lợi dụng lúc sóng to, gió lớn dùng phương tiện có tải trọng lớn đi ngoài luồng để trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Trở lại việc trên 100 tàu do BĐBP tỉnh tạm giữ mới đây, theo một đồng chí cán bộ của Hải đội 2 BP cho biết: Hiện nay theo kết quả điều tra sơ bộ, không phải tất cả đều không xác định được nguồn gốc than, mà là lỗi hỗn hợp như phương tiện, thuyền viên không đủ giấy tờ hợp lệ; lệnh điều động phương tiện không đúng luồng, tuyến... Trong khi đó để đấu tranh với những hành vi buôn bán, vận chuyển than trên biển không phải là việc đơn giản. Trước hết, là do kinh phí hoạt động, phương tiện làm nhiệm vụ trên biển... của lực lượng chức năng còn rất hạn chế. Chỉ tính riêng Hải đội 2 BP, muốn duy trì hoạt động như đợt cao điểm vừa qua thì kinh phí xăng dầu được cấp mới chỉ đáp ứng được 1/3. Khi bắt được một phương tiện vận chuyển than chưa có giấy tờ hợp lệ, chủ phương tiện lại gọi cho một số cơ sở để hợp thức hoá chứng từ (trong vụ việc vừa qua, cơ quan chức năng đã phát hiện được trường hợp này). Nếu bị bắt giữ ngoài khơi xa, chủ phương tiện lấy cớ là đi lạc... luồng. Hay như, khi phát hiện được phương tiện chở không đúng chủng loại, phẩm cấp, quá tải trọng thì không biết cập vào bến nào để hạ tải và nếu đưa về đơn vị thì kinh phí chi trả cho việc quản lý, trông coi... không biết tính vào nguồn nào v.v..

Vì sao tồn tại một lượng lớn than “trôi nổi”? ảnh 2

Một điểm thu gom than trái phép
trên địa bàn TP Hạ Long.

Trước những vấn đề đặt ra như vậy, để ngăn chặn và kiểm soát được tình hình khai thác vận chuyển, kinh doanh than trái phép, các ngành chức năng, cấp uỷ, chính quyền các địa phương cần tích cực vào cuộc như rà soát những dự án phát triển lâm nghiệp; thu hồi giấy phép của những doanh nghiệp không đủ chức năng khai thác, chế biến và kinh doanh than. Về phía TKV cần phải chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với tỉnh để có biện pháp quản lý, xử lý hiệu quả. Trong đó cần tập trung vào việc quản lý chặt chẽ ranh giới mỏ; tránh tình trạng doanh nghiệp không đủ năng lực sản xuất phải thuê doanh nghiệp ngoài ngành vào “liên doanh” theo hình thức chia sản phẩm...

Đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Chủ tịch UBND TX Cẩm Phả:

Mặc dù các cơ quan chuyên trách của thị xã đã và đang tích cực vào cuộc  kiểm tra, xử lý, nhưng  chúng tôi vẫn xác định: Tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển và  tiêu thụ than trái phép trên địa bàn sẽ diễn biến phức tạp, khó lường. Việc BĐBP tỉnh tạm giữ hơn 100 tàu vận chuyển than trên biển, trong đó, một số chủ tàu khai nhận nguồn than được lấy từ các cảng lẻ của Cẩm Phả là điều đáng tiếc. Quan điểm của địa phương, cần phải tịch thu hết số hàng không rõ nguồn gốc để phát mại, đồng thời cần điều tra, làm rõ nguồn gốc than để xử lý nghiêm các đối tượng buôn bán, kinh doanh than trái phép. Cũng nói thêm rằng, đến nay các lò khai thác than trái phép trên địa bàn TX Cẩm Phả không còn nhiều, song do việc quản lý của các doanh nghiệp trong TKV còn bất cập dẫn đến một số đối tượng núp bóng làm ăn phi pháp... Một vấn đề nữa đặt ra là lượng than ở đầu đường bãi thải và lượng than trôi do nhân dân đãi ở các sông suối còn khá nhiều, nhưng không có đầu mối thu mua, do vậy lượng than trôi nổi là không tránh khỏi. Hơn nữa,  với đặc thù hệ thống cảng biển nhiều như ở Cẩm Phả thì việc rà soát quản lý là  không đơn giản.

Theo tôi, nhằm giảm thiểu và triệt để ngăn chặn tình trạng này, không có giải pháp nào khác là tập trung kiểm tra toàn diện các bến bãi, cảng tiêu thụ than; rà soát các dự án trồng rừng (hiện trên địa bàn Cẩm Phả có tới hơn 100 dự án trồng rừng), nếu xét thấy các dự án này  không hiệu quả hoặc sử dụng không đúng mục đích thì thu hồi ngay; làm tốt công tác kiểm soát chặt chẽ khâu vận chuyển than trên các tuyến đường bộ, thuỷ.

Đại tá Nguyễn Hữu Tước, Giám đốc Công an tỉnh:

Hiện số phương tiện và than Bộ đội Biên phòng tỉnh đang tạm giữ, cần phải khẩn trương phân loại, điều tra làm rõ mức độ vi phạm của các đối tượng, phương tiện để xử lý kiên quyết, nghiêm và triệt để theo quy định của pháp luật, nhằm răn đe giáo dục các cá nhân, doanh nghiệp vi phạm hoạt động vận chuyển tiêu thụ than. Muốn ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép không chỉ lực lượng chức năng trong khối nội chính vào cuộc là được, mà chính quyền, địa phương các cấp, mọi tầng lớp nhân dân và nhất là ngành Than  phải vào cuộc đồng bộ, thực hiện quyết liệt. Đặc biệt phải tập trung tổ chức kiểm tra, xử lý triệt để các lò, điểm khai thác than trái phép trong ranh giới quản lý tài nguyên của ngành Than, khu vực giáp ranh và khu vực dân cư. Kiểm tra xử lý nghiêm các phương tiện vận chuyển than trái phép trên tuyến đường thuỷ, đường bộ. Kiểm tra, làm rõ và xử lý nghiêm các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân lợi dụng chức năng kinh doanh than, để hợp pháp hoá tiêu thụ than trái phép. Xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng bến bãi, cảng tập kết, chế biến tiêu thụ than trái phép và sử dụng cảng bốc xếp hàng hoá không đúng mục đích. Tăng cường các biện pháp, ngăn chặn và xử lý nghiêm các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thu gom than trái phép với số lượng lớn; các đường dây, tổ chức mua bán giấy tờ, hoá đơn hợp thức hoá nguồn than trái phép; các đường dây tổ chức thông đồng móc ngoặc với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh than đưa than ra ngoài tiêu thụ trái phép; các đường dây, tổ chức lợi dụng đưa than xuất khẩu trái phép sang thị trường Trung Quốc.

Cùng chuyên mục