Vì sao việc triển khai lắp đặt trạm BTS gặp khó khăn?

Hiện nay, cả nước ta đã có gần 50 triệu thuê bao điện thoại di động. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 6 DN Viễn thông đang hoạt động cung cấp dịch vụ thông tin di động, với trên 600 trạm phát sóng, mật độ điện thoại di động đạt trên 70 thuê bao/100 dân.

Những con số này đã cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin di động ở nước ta nói chung và ở tỉnh nói riêng là rất lớn. Vì vậy, việc đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng viễn thông, mở rộng mạng lưới là một nhu cầu tất yếu của tất cả các mạng di động nhằm cung cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, thời gian qua, việc phát triển hạ tầng, mở rộng vùng phủ sóng, đặc biệt là xây dựng các trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng (gọi tắt là trạm BTS) của các DN Viễn thông đã gặp không ít khó khăn.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, trong đó có nguyên nhân cơ bản là công tác tuyên truyền chưa được quan tâm đúng mức. Người dân chưa có những thông tin đầy đủ, chính xác về mức độ an toàn của các trạm BTS. Nhiều người dân chưa đồng tình ủng hộ việc lắp đặt các trạm BTS vì lo ngại bị ảnh hưởng sức khoẻ khi phải sống gần các trạm này, nhất là ở những khu vực đô thị đông dân cư. Điển hình như tổ dân 12, khu 4, phường Hồng Hải (TP Hạ Long) mới đây đã gửi biên bản họp đại diện tổ dân đến Sở Thông tin - Truyền thông và một số cơ quan chức năng khác kiến nghị đình chỉ lắp đặt trạm BTS tại tổ dân mình. Một số địa phương khác cũng có những phản ứng tương tự. Đây là vấn đề không mới nhưng vẫn luôn mang tính thời sự khi mà nhu cầu phát triển, mở rộng vùng phủ sóng của các mạng di động ngày càng lớn trong khi thông tin và nhận thức của người dân về vấn đề này chưa đầy đủ và kịp thời.

Thực ra môi trường sống của chúng ta hiện nay luôn tồn tại sóng điện từ trường được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau như hoạt động của máy móc công nghiệp, thiết bị điện, nguồn điện, trạm ra-đa, sóng phát thanh, truyền hình, sóng hệ thống vô tuyến điều hành tắc-xi... là những nguồn phát có công suất và tần số đa dạng. Thậm chí những vật dụng hàng ngày trong gia đình như lò vi sóng cũng là những nguồn phát sóng điện từ mà không mấy ai quan tâm. Trong khi đó công suất phát sóng của các trạm BTS nhỏ so với nhiều lĩnh vực khác thì lại cho là có “vấn đề” với sức khoẻ. Hiện nay thiết bị thu phát của các trạm BTS rất hiện đại, chỉ cần nguồn năng lượng rất nhỏ đã thu được sóng, nên mức độ năng lượng phát ra là rất nhỏ bé và tần số thu phát sóng không phải là bức xạ ion nên không thể gây ra tác hại đến sức khoẻ như “thay đổi công thức máu” hay “tác động vào hệ thần kinh thực vật” như nhiều người lầm tưởng.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) qua nghiên cứu, trong kết luận số 304 tháng 5-2006 đã khẳng định: “Xét về các mức phơi nhiễm rất thấp và các kết quả nghiên cứu được thu thập tới nay, không có bằng chứng khoa học thuyết phục nào cho thấy các tín hiệu tần số vô tuyến yếu từ các trạm thu phát vô tuyến và các mạng vô tuyến gây ra những ảnh hưởng có hại cho sức khoẻ”. ở nước ta, ngày 15-6-1996, Bộ Thông tin - Truyền thông đã ban hành quyết định số 19 quy định bắt buộc áp dụng TCVN3718-1:2005 (tiêu chuẩn Việt Nam của Bộ Khoa học - Công nghệ) đối với trạm thu phát thông tin di động. Với việc bắt buộc áp dụng TCVN 3718-1:2005, giá trị mật độ dòng năng lượng (s) quy định đối với các trạm BTS là 2W/m2, giá trị này nghiêm ngặt hơn nhiều so với giới hạn quy định của Uỷ ban Quốc tế về phòng chống bức xạ ion hoá (CNIRP) là 4,5W/m2; của Mỹ, Nhật Bản là 6W/m2... Đồng thời, Bộ Thông tin - Truyền thông cũng đã ban hành tiêu chuẩn ngành TCN68-255:2006 về phương pháp đo mức độ phơi nhiễm trường điện từ, ban hành các quyết định về kiểm định công trình viễn thông, theo đó từng trạm BTS phải được kiểm định, nếu tuân thủ TCVN 3718-1:2005 thì mới được hoạt động. Như vậy, các cơ quan chức năng đã rất nỗ lực, ban hành khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật để việc xây dựng các trạm BTS phải đạt các tiêu chuẩn cho phép về mức độ an toàn, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Để đẩy nhanh tốc độ đầu tư, phát triển mạnh hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh, cần phải có sự vào cuộc quyết liệt, sự phối hợp tích cực, đồng bộ của các cấp các ngành, trước hết là cấp uỷ đảng và chính quyền cơ sở. Với biện pháp hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân để người dân yên tâm, ủng hộ việc xây dựng phát triển hạ tầng viễn thông, phục vụ lợi ích cộng đồng và phát triển đất nước. Đồng thời, phải tăng cường và nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước; thực hiện nghiêm Quy hoạch phát triển Bưu chính - Viễn thông của tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; làm tốt công tác thẩm định và cấp phép xây dựng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đo kiểm mức phơi nhiễm trường điện từ của các trạm BTS và chỉ cấp phép hoạt động khi đủ các tiêu chuẩn an toàn quy định.

Với những biện pháp tích cực đó, hy vọng việc triển khai xây dựng các trạm BTS trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh sẽ có nhiều thuận lợi và khởi sắc đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Cùng chuyên mục