Vị thế Quảng Ninh...

LTS: Nhân dịp Xuân Canh Dần 2010, Báo Quảng Ninh đã phỏng vấn 3 đồng chí Bộ trưởng các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông - Vận tải; Văn hoá - Thể thao và Du lịch. Nội dung phỏng vấn tập trung vào một chủ đề duy nhất, đó là vai trò, vị trí của Quảng Ninh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và ở một số lĩnh vực cụ thể, được tỉnh xác định là mũi nhọn trọng điểm.

Dưới đây là trả lời phỏng vấn của các đồng chí Bộ trưởng:

Đồng chí Võ Hồng Phúc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư: "Tập trung xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước"

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở Đông Bắc của Việt Nam, có vị trí địa lý quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như quốc phòng, an ninh của cả nước. Quảng Ninh vừa có rừng, có bờ biển dài, núi cao và hải đảo.

Vị thế Quảng Ninh... ảnh 1
Đồng chí Võ Hồng Phúc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm việc với tỉnh Quảng Ninh.

Quảng Ninh được thiên nhiên ưu đãi cho Vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận 2 lần là Di sản thiên nhiên thế giới, là điểm du lịch hấp dẫn du khách vào bậc nhất của Việt Nam. Ngoài ra tỉnh còn có những tài nguyên du lịch tự nhiên khác như: Vịnh Bái Tử Long; hệ thống các đảo Ngọc Vừng, Quan Lạn...; thắng cảnh Yên Tử, đồi thông Yên Lập, hồ Khe Chè... Hệ thống các hang động, bãi tắm gắn với các Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và các suối nước khoáng phục vụ du lịch nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ như Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu)... Các điều kiện trên cho phép phát triển Quảng Ninh thành trung tâm du lịch mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

Biển và tài nguyên biển là điều kiện để phát triển kinh tế biển - một mũi nhọn đột phá của tỉnh trong tương lai. Biển Quảng Ninh là một hệ sinh thái có tính đa dạng cao về cảnh quan và các hệ động thực vật phong phú. Có tới 400 loài cá, 500 loại động vật biển, 160 loài san hô, 140 loài rong biển… Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục vạn ha vũng nông ven bờ thuộc Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long là môi trường rất thuận tiện để phát triển nuôi tôm, cá và hải đặc sản xuất khẩu. Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến vào nuôi trồng thuỷ, hải sản ở biển và ven biển sẽ cho phép Quảng Ninh phát triển thuỷ sản thành một ngành kinh tế mạnh.

Quảng Ninh có đường biên giới trên biển và trên bộ với Trung Quốc dài khoảng 250km. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi trong việc phát triển hệ thống đường giao thông cả đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và trong tương lai cả đường hàng không.

Là một cực trong tam giác phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng Ninh có quan hệ mật thiết về các hoạt động kinh tế, khoa học và văn hoá xã hội với Thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và ven biển với hệ thống quốc lộ 4B, quốc lộ 10, quốc lộ 18A và 18C đi qua địa bàn của tỉnh. Với nguồn tài nguyên lớn có ưu thế về phát triển cảng biển, du lịch, khoáng sản (đặc biệt than đá và vật liệu xây dựng), gần các nguồn điện lớn, có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông thuận tiện (đang và sẽ được nâng cấp phát triển)... là những cơ hội lớn để Quảng Ninh phát triển nhanh trong tương lai.

Quảng Ninh là điểm đầu của vành đai ven biển Vịnh Bắc Bộ. Trong Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg ngày 2-3-2009 về quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đã nhấn mạnh: "Phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ thành khu vực kinh tế năng động, có sức thúc đẩy cả vùng Bắc Bộ và trở thành động lực trong hợp tác phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật với Trung Quốc và các nước ASEAN, đồng thời kết nối với các khu vực ven biển khác trong cả nước tạo thành một vành đai kinh tế ven biển phát triển nhanh, thúc đẩy và gắn kết với các vùng khác trong nội địa cùng phát triển. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong vành đai kinh tế, đặc biệt là tuyến trục chính ven biển từ Móng Cái đến Đồ Sơn và các cảng biển, sân bay... để nối kết với hai hành lang kinh tế Việt - Trung và khu vực ven biển Nam Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, tạo điều kiện mở rộng giao thương và hợp tác phát triển với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả". 

Quảng Ninh là điểm cuối của hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tham gia vào hành lang kinh tế quốc tế Nam Ninh  - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Trong Quyết định số 98/2008/QĐ-TTg ngày 11-7-2008 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển Hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đã khẳng định: "Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo hợp tác phát triển Hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là hợp tác phát triển trong khuôn khổ hợp tác kinh tế thương mại hai nước Trung - Việt và trong cơ chế hợp tác khu vực ASEAN+1, ASEAN+3, GMS và khuôn khổ WTO, là sự hợp tác loại hình mở cửa. Hai bên cùng tuân thủ quy tắc của khuôn khổ hợp tác tổng thể hai nước và cơ chế hợp tác song phương, đa phương để xây dựng chiến lược phát triển và hợp tác phát triển kinh tế lâu dài, ổn định; đi đầu trong chương trình phát triển hai hành lang, một vành đai và tính tới phát triển toàn tuyến đi châu Âu và đi các nước khác trong khu vực ASEAN".

Với vị địa kinh tế - chính trị thuận lợi của mình Quảng Ninh phải phấn đấu trở thành là 1 trong nhóm 10 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đứng đầu cả nước với các trung tâm kinh tế phát triển (ở thành phố Hạ Long, ở Khu kinh tế Vân Đồn, Khu Hải Hà và khu vực Móng Cái), trở thành một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước và khu vực, đủ sức chủ động hội nhập đầy đủ với các nước trong khu vực.

Nhiệm vụ quan trọng nhất đối với tỉnh Quảng Ninh là phải duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tạo được sự chuyển biến về chất lượng phát triển. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng và tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất, nhằm cải thiện đáng kể trình độ công nghệ sản xuất. Tập trung nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Chủ động trong quan hệ hợp tác kinh tế trong nước và quan hệ kinh tế với nước ngoài, khai thác có hiệu quả các quan hệ kinh tế đối ngoại. Phát triển văn hoá, xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế. Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm, giảm rõ rệt các tệ nạn xã hội. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh.

Các định hướng phát triển chủ yếu:

- Phát huy tối đa lợi thế so sánh của Quảng Ninh, tập trung xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước, Hạ Long thành thành phố du lịch chất lượng cao; trung tâm thương mại và dịch vụ có sức cạnh tranh với các trung tâm khác trong nước và khu vực.

- Phát triển tập trung có trọng tâm, trọng điểm, nhanh chóng phát huy lợi thế so sánh để xây dựng thành công Khu kinh tế Vân Đồn gắn với khu vực Hải Hà trở thành trung tâm kinh tế và giao thương quốc tế lớn của khu vực phía Bắc,... Là cực phát triển kinh tế quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ra của "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" Việt Nam - Trung Quốc, đầu mối phát luồng hàng hoá xuất nhập khẩu lớn của cả nước: Có khả năng trung chuyển hàng hoá trong nước và quốc tế theo "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" Việt Nam Trung Quốc, có khả năng khai thác thị trường của vùng, cả nước và quốc tế. Là trung tâm giao dịch quốc tế về đường biển. Là cửa ngõ ra biển của các tỉnh phía Bắc; có điều kiện thuận lợi lớn để đẩy mạnh hợp tác kinh tế và mở rộng thị trường nước ngoài, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Tận dụng cơ hội để phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, mở rộng các hình thức thu hút nguồn lực từ bên ngoài, kể cả các hình thức đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp...; đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng khả năng xuất khẩu các mặt hàng đã chế biến sâu; tăng sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ.

- Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại (dịch vụ - công nghiệp - nông, lâm, ngư nghiệp) để phát huy các lợi thế so sánh, nâng sức cạnh tranh, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá. Phát triển nhanh các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghiệp vật liệu mới và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Tận dụng tốt khả năng phân bố lực lượng sản xuất của Trung ương và của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hình thành các kho trung chuyển lớn, đầu mối giao dịch thanh toán, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế... tạo ra bước đột phá về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá; nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế.

- Phát triển thật sự  bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá, gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã công bố, gắn phát triển trước mắt với lâu dài, lấy phát triển du lịch, công nghiệp làm hạt nhân phát triển kinh tế tỉnh. Lấy phát triển công nghiệp làm động lực đóng góp cho tăng trưởng, đẩy nhanh phát triển du lịch và dịch vụ là ngành kinh tế mũi nhọn và là sự đóng góp lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, coi trọng phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và nông thôn. Nhanh chóng tạo ra các yếu tố bên trong vững mạnh, tranh thủ lợi thế từ bên ngoài, gắn Quảng Ninh trong mối quan hệ tổng thể với các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các đô thị của vùng và các KKT, KCN lớn qua hành lang phát triển quốc lộ 18, để thu hút vốn đầu tư và công nghệ mới, nhất là cho phát triển công nghiệp và dịch vụ du lịch.

- Coi trọng phát huy nhân tố con người, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là nguồn lực phát triển quan trọng của Quảng Ninh. Gắn giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật với thị trường sức lao động. Coi trọng giáo dục phổ cập để nâng cao trình độ dân trí của dân cư, đặc biệt là dân cư nông thôn và miền núi. Coi trọng việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ đầu đàn, cán bộ khoa học kỹ thuật, các nhà doanh nghiệp và công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

- Đảm bảo phát triển bền vững về mặt xã hội, phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với phát triển xã hội, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng, tiến bộ xã hội nhằm trước hết tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Quan tâm thoả đáng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội đối với khu vực nông thôn.

- Đảm bảo phát triển bền vững về mặt môi trường, phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững và cảnh quan cho phát triển du lịch. Gắn phát triển kinh tế với bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, chú trọng công tác bảo vệ môi trường sinh thái khi thực thi các dự án phát triển kinh tế.

Chúc nhân dân Quảng Ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền tỉnh, thu được những kết quả to lớn, thực sự trở thành vùng động lực phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững Tổ quốc ở phía Đông Bắc.

Đồng chí HỒ NGHĨA DŨNG, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải:
"Quảng Ninh một "tâm điểm" trong quy hoạch, chiến lược phát triển giao thông vận tải"
 
Như chúng ta đã biết, giao thông chính là một trong những yếu tố quan trọng đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một vùng hay nói rộng hơn một quốc gia. Chính vì vậy, trong mọi giai đoạn, thời kỳ, giao thông vận tải luôn được Đảng, Nhà nước ta coi trọng và quan tâm đặc biệt.

Vị thế Quảng Ninh... ảnh 2
Đồng chí Hồ Nghĩa Dũng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ GT-VT (thứ 3, trái sang) tham dự lễ khởi công Dự án cải tạo, nâng cấp QL18 (đoạn Mông Dương - Móng Cái).

Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, giao thông vận tải càng khẳng định vị trí, tầm quan trọng trong việc phát triển đất nước. Từ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển GTVT, Bộ Giao thông - Vận tải đã đẩy mạnh công tác đầu tư, hiện đại hoá hệ thống giao thông trong toàn quốc theo hướng tập trung ưu tiên cho các địa phương được xác định là "đầu tàu" kinh tế của đất nước. Theo đó, một nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh phát triển hiện đại hoá theo hướng đồng bộ hạ tầng, hệ thống giao thông ở các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trong đó có Quảng Ninh. 

Trước tiên, cần khẳng định rằng, với các đặc điểm tự nhiên nổi trội, nhất là về yếu tố vị trí địa lý, Quảng Ninh một là địa bàn có ưu thế lớn trong phát triển GTVT. Bộ Giao thông - Vận tải đánh giá cao yếu tố thuận lợi này của Quảng Ninh trong quy hoạch cũng như chiến lược phát triển giao thông khu vực phía Bắc, cũng như vùng trọng điểm Bắc Bộ.

Chúng ta đều biết, Quảng Ninh giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước với 3 yếu tố sau: Là vùng công nghiệp khai thác than lớn nhất của nước ta; địa bàn trọng điểm của du lịch quốc gia; đồng thời là "cửa ngõ" thuận lợi nhất để vào thị trường Trung Quốc và các nước ASEAN qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Do vậy, Bộ Giao thông - Vận tải xác định, Quảng Ninh là một "tâm điểm" trong quy hoạch, chiến lược phát triển giao thông vận tải ở khu vực phía Bắc và mở rộng ra là toàn quốc.

Bộ Giao thông - Vận tải ghi nhận và đánh giá cao sự chủ động, nỗ lực của tỉnh Quảng Ninh trong việc coi trọng và đầu tư xứng tầm cho giao thông trong những năm vừa qua. Bên cạnh sự cố gắng của tỉnh, Chính phủ, Bộ Giao thông - Vận tải đã rất chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng giao thông của Quảng Ninh - một tỉnh nằm trong vùng động lực kinh tế phía Bắc.

Theo thống kê của ngành, đến nay Quảng Ninh đã có gần 400km quốc lộ với trục xương sống là quốc lộ 18. Các quốc lộ còn lại cũng hình thành các đường kết nối vào trục xương sống, kết nối Quảng Ninh với Thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng và các tỉnh duyên hải. Để phát huy tối đa lợi thế cảng biển trong chiến lược phát triển chung của đất nước và của Quảng Ninh, Bộ Giao thông - Vận tải đã đầu tư nâng cấp tuyến đường sắt từ Yên Viên kết nối đến Cảng Cái Lân - một cảng biển quan trọng của Bắc Bộ. Theo Quyết định 2190/QĐ-TTg (ngày 21-12-2009) của Thủ tướng Chính phủ, Quảng Ninh có đến 5 cảng biển trong hệ thống cảng biển Việt Nam. Từ những khái quát tổng thể trên cho thấy, Quảng Ninh đã có sự kết nối thuận lợi đến mọi miền của đất nước vì Quảng Ninh có đầy đủ mọi loại hình giao thông vận tải.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập và phát triển, Bộ Giao thông - Vận tải xác định tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường đầu tư hệ thống hạ tầng giao thông theo hướng như đã nói ở trên. Theo đó, cùng với việc triển khai quy hoạch chuyên ngành, Bộ Giao thông - Vận tải tập trung mạnh cho các chương trình hợp tác vận tải quốc tế. Cụ thể là hợp tác Việt Nam - Trung Quốc theo chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế; một trục hai cánh. Hợp tác giữa Việt Nam - ASEAN, đường xuyên Á, vận tải qua lại biên giới…

Cụ thể, về đường bộ sẽ tiếp tục cải tạo, nâng cấp các tuyến theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 với mục tiêu chủ yếu đạt đường cấp III. Cải thiện điều kiện giao thông trục chính hướng tâm từ cửa khẩu quốc tế Móng Cái về Thủ đô Hà Nội; kết nối tuyến vận tải từ Vân Nam - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh… Hình thành tuyến đường bộ ven biển duyên hải Bắc Bộ và kết nối với tuyến đường ven biển của cả nước. Cải thiện điều kiện giao thông các tuyến vành đai 1, vành đai 2 (quốc lộ 4B, quốc lộ 279); kết nối các tỉnh Tây Bắc với hệ thống cảng biển của Quảng Ninh.

Đối với hệ thống đường cao tốc, đến năm 2015 và trước năm 2020 hình thành tuyến đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái với điểm kết thúc là cầu Bắc Luân II kết nối với Trung Quốc. Tuyến đường này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong vận tải quốc tế với Trung Quốc, Trung Quốc - ASEAN. Đây cũng là một phần của tuyến đường xuyên Á. Đáng chú ý, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng cũng sẽ được kết nối với cao tốc Nội Bài - Hạ Long. Chính vì vậy, Bộ Giao thông - Vận tải rất quan tâm để triển khai sớm. Như vậy, giao thông vùng tam giác kinh tế (Quảng Ninh - Hà Nội - Hải Phòng) sẽ hoàn thiện để kết nối vào vùng kinh tế Bắc Bộ, thúc đẩy khu vực này tăng trưởng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, hệ thống đường ven biển các tỉnh, thành phố gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thái Bình sẽ sớm được đầu tư. Đường ven biển nối Quảng Ninh với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng tạo thành liên kết vùng các tỉnh phía Bắc Việt Nam với phía Nam Trung Quốc.

Về đường sắt, hoàn thành cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân. Tuyến đường sắt Lạng Sơn - Mũi Chùa (Tiên Yên) đang được nghiên cứu xây dựng để kết nối với Khu Kinh tế Vân Đồn, một khu kinh tế lớn của phía Bắc. Tuyến đường sắt đến Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà của Quảng Ninh cũng đang được nghiên cứu. Khi hoàn thành, mạng lưới đường sắt của Quảng Ninh về cơ bản sẽ hoà cùng mạng lưới đường sắt quốc gia và quốc tế.

Về quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, Bộ Giao thông - Vận tải đã định hướng cho tỉnh tập trung phát triển các bến còn lại của Cảng Cái Lân; nâng cấp Cảng Cẩm Phả đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu than, đồng thời xây dựng Cảng tiềm năng Cẩm Phả tạo thành hệ thống cảng biển gồm Cảng cửa ngõ Lạch Huyện (Hải Phòng), hệ thống cảng trong Khu Công nghiệp Đầm Nhà Mạc (Yên Hưng) kết nối với Cảng Cái Lân, Cảng biển Hải Hà.

Trong quy hoạch hàng không,  tương lai Quảng Ninh sẽ có sân bay tại Vân Đồn với quy mô trở thành cảng hàng không quốc tế. Đây là một hệ thống giao thông quan trọng của Khu Kinh tế Vân Đồn nói riêng và khu vực Đông Bắc nói chung.

Như vậy, hệ thống giao thông vận tải ở Quảng Ninh về cơ bản đã có định hướng phát triển rõ ràng và nằm trong các quy hoạch ngành đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để Quảng Ninh tiếp tục tăng tốc, phát triển mạnh, xứng đáng là một "đầu tàu" kinh tế khu vực phía Bắc. Thời gian tới, Bộ Giao thông - Vận tải sẽ tích cực báo cáo Chính phủ huy động các nguồn lực xã hội tập trung phát triển nguồn lực hạ tầng giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước nói chung, trong đó có Quảng Ninh.
 
Đồng chí HOÀNG TUẤN ANH, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch:
"Văn hoá, thể thao và du lịch Quảng Ninh luôn đứng trong top đầu cả nước"
 
Quảng Ninh có điều kiện tự nhiên và xã hội phong phú, giàu tiềm năng phát triển trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Vùng đất này tích tụ một không gian văn hoá đậm đặc với hàng trăm di tích các loại, trong đó nhiều di tích đã được công nhận cấp quốc gia. Hơn một thế kỷ qua, Quảng Ninh còn được biết đến là vùng công nghiệp khai thác than lớn nhất của đất nước, là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi tôi luyện trưởng thành của nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, tạo hoá đã tặng vùng đất Quảng Ninh một tài nguyên du lịch khổng lồ. Đó chính là Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Với ưu thế về địa - chính trị, Quảng Ninh vừa có tiềm năng, lợi thế phát triển, vừa có điều kiện giao lưu hội nhập quốc tế để thu hút đầu tư. Tất cả những yếu tố này có vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như đối với sự phát triển văn hoá, thể thao và du lịch.

Vị thế Quảng Ninh... ảnh 3
Đồng chí Hoàng Tuấn Anh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VH-TT & DL làm việc với tỉnh Quảng Ninh, tháng 8-2009.

Trong lĩnh vực văn hoá, Quảng Ninh có những nhân tố vừa là đặc trưng vừa là nền tảng. Đó là những dấu ấn được kết tinh trong hàng trăm di tích, cùng bề dày lịch sử - văn hoá được chứng minh bằng nhiều trầm tích văn hoá gắn liền với quá trình phát triển của người Việt cổ vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam và đặc trưng văn hoá công nhân Vùng mỏ, văn hoá đa dạng của cộng đồng trên 20 dân tộc miền núi phía Bắc. Cùng với những tiềm năng kinh tế, những điều kiện thuận lợi trong hoạt động quan hệ giao lưu quốc tế và sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, Quảng Ninh có đủ những yếu tố cần thiết để góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thực tế những năm qua, Quảng Ninh đã làm tốt công tác đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá, tái hiện các phong tục, lễ hội và nét đẹp văn hoá truyền thống để bảo tồn, kế thừa, khai thác, phát huy và giới thiệu với cộng đồng quốc tế về những giá trị văn hoá Việt Nam. Các hoạt động giao lưu hội nhập quốc tế thường xuyên được tổ chức và không ngừng mở rộng đã tạo nhiều cơ hội học hỏi, tiếp cận, chọn lọc tinh hoa của các nền văn hoá tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt, hoạt động văn hoá nghệ thuật quần chúng và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" được tổ chức tốt trên địa bàn tỉnh đã thu hút được sự quan tâm đầu tư của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp và nhiều tổ chức, cá nhân tham gia. Hiệu ứng của những hoạt động này đã tạo ra một thiết chế văn hoá rộng khắp tại tất cả các huyện, thị xã, thành phố và hàng trăm đơn vị nghệ thuật nghiệp dư có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, có cơ chế hoạt động, tạo nên một môi trường văn hoá năng động thấm sâu vào đời sống quần chúng nhân dân và các hoạt động xã hội.

Cùng với việc đầu tư phát triển các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, bảo tàng, thư viện, xây dựng trường văn hoá nghệ thuật, rạp chiếu phim, hệ thống phát thanh truyền hình, báo chí, hỗ trợ hoạt động của hội văn học nghệ thuật... Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả trong việc đào tạo, phát triển tài năng của các văn, nghệ sỹ, giải phóng năng lực sáng tạo của giới trí thức, tạo điều kiện thiết thực nâng cao đời sống tinh thần cộng đồng, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, các dân tộc trên địa bàn tỉnh và đóng góp nhiều nhân tài cho đất nước. Với tiềm năng to lớn và những kết quả đạt được trong nhiều năm qua, văn hoá Quảng Ninh có vai trò, vị thế quan trọng đối với việc thực hiện chiến lược phát triển văn hoá của khu vực phía Bắc, vùng duyên hải và cả nước, đồng thời trở thành một trong những trung tâm văn hoá hàng đầu của đất nước.

Trong lĩnh vực thể thao, Quảng Ninh từ lâu đã có truyền thống là một trung tâm thể thao lớn của cả nước với nhiều môn thể thao có thế mạnh, đóng góp xứng đáng cho nền thể thao nước nhà. Với tố chất người vùng biển - vùng than cần có sức khoẻ để lao động, sản xuất, với sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng sự phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả của các tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh xây dựng được phong trào thể thao quần chúng rộng rãi, thu hút nhiều đối tượng tham gia, tạo sân chơi lành mạnh cho nhiều lứa tuổi, góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện giống nòi. Ý thức đầu tư, phát triển các cơ sở đào tạo, các trung tâm tập luyện và thi đấu thể thao trên địa bàn tỉnh đã tạo ra động lực phát triển và mối liên kết chặt chẽ giữa thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, tạo tiền đề cho việc bồi dưỡng và phát triển nhiều tài năng thể thao, đóng góp xứng đáng cho đội tuyển của tỉnh và đội tuyển quốc gia. Môi trường quan hệ quốc tế rộng mở từ khi có các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Quảng Ninh cùng với các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao, du lịch quốc tế thường xuyên cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho thể thao Quảng Ninh tiếp cận với các loại hình thể thao hiện đại, những thành tích thể thao ở khu vực và thế giới.

Nhiều năm qua, Quảng Ninh đã góp phần quan trọng đào tạo nên nhiều tên tuổi thể thao, mang vinh quang về cho đất nước với nhiều thành tích xuất sắc từ các đấu trường khu vực, châu lục và quốc tế. Gần đây nhất - năm 2009, tham gia 61 giải thi đấu toàn quốc, thể thao thành tích cao Quảng Ninh đã đạt được 192 huy chương các loại, trong đó có 40 huy chương vàng. Với các giải thi đấu quốc tế, các nữ cầu thủ bóng đá Quảng Ninh đã góp phần cùng đội tuyển bóng đá nữ quốc gia giành huy chương vàng tại SEA Games 25; 2 huy chương bạc đồng đội cờ vua nhanh tại AIG III và đồng đội nam giải cờ vua đồng đội châu Á tại Ấn Độ là công dân Quảng Ninh. Theo đánh giá của giới chuyên môn, hàng năm thể thao Quảng Ninh thường xuyên giữ vị trí trong nhóm dẫn đầu của khu vực phía Bắc và đứng trong Top 15 các tỉnh/thành cả nước.

Trong lĩnh vực du lịch, Quảng Ninh vừa có tiềm năng vừa có nhiều thế mạnh, điển hình nhất là tài nguyên du lịch Vịnh Hạ Long. Vì vậy, Quảng Ninh đã được xác định là một trung tâm du lịch lớn của cả nước và là một địa bàn quan trọng trong tam giác động lực phát triển kinh tế phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Hiện nay, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức khai thác, phát huy tốt các tiềm năng thế mạnh về du lịch của tỉnh. Hoạt động du lịch có nhiều bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, bước đầu tạo nên một hệ thống doanh nghiệp mạnh, có uy tín, có thương hiệu. Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch không ngừng được đầu tư phát triển. Không gian du lịch mở rộng, sản phẩm, dịch vụ du lịch được đa dạng hoá. Nguồn thu từ du lịch không ngừng tăng trưởng, đóng góp quan trọng cho ngân sách của tỉnh. Công tác quản lý nhà nước về du lịch có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động đầu tư phát triển du lịch thu hút được nhiều nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tạo ra những khu, điểm du lịch có sức hấp dẫn, làm thay đổi diện mạo đô thị và cảnh quan du lịch, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Hoạt động du lịch cũng đồng thời tạo ra một môi trường có tính cạnh tranh cao, là động lực cho sự phát triển. Ngoài ra, các hoạt động du lịch còn góp phần nâng cao nhận thức, tư duy kinh tế du lịch, tăng cường ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường, phát triển du lịch bền vững, đẩy mạnh quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế... Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng quá trình phát triển du lịch Quảng Ninh và những thành công đạt được trên địa bàn đã có vai trò tác động như một hình mẫu và là những kinh nghiệm quý trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia.

Bên cạnh những kết quả tiêu biểu, văn hoá, thể thao và du lịch Quảng Ninh vẫn có một số hạn chế cần khắc phục. Tuy nhiên, những khó khăn, hạn chế đó nằm trong tình trạng chung của toàn ngành. Chính vì vậy, thời gian tới Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch sẽ quan tâm phát triển cả 3 lĩnh vực này theo hướng có chiều sâu, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm; lấy chất lượng, hiệu quả làm cơ sở, sẽ quan tâm đầu tư hơn nữa cho cả 3 lĩnh vực, huy động mọi nguồn lực để thực hiện thành công chiến lược phát triển văn hoá, thể thao và du lịch Việt Nam.

Cùng chuyên mục