Ông Đinh Đức Hợp, trú tại khu 4, phường Ninh Dương (TP Móng Cái) nhiều lần gửi đơn kiến nghị yêu cầu UBND TP Móng Cái bồi thường số diện tích đất của gia đình bị thu hồi khi thực hiện Dự án nâng cấp đại lộ Hoà Bình năm 2005...
Theo phản ánh của ông Hợp: Năm 2000, khi thi công đường dẫn cầu Hoà Bình để thực hiện Dự án nâng cấp đại lộ Hoà Bình đoạn từ Km2 đến cầu Hoà Bình, TP Móng Cái đã chia thửa đất của gia đình ông thành hai phần. Phần đất phía Nam gồm nhà ở, và cây trồng (đã được hợp thức hoá cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004), có diện tích 551m2; phần đất phía Bắc có diện tích 1.456,3m2, gồm lò gạch, nhà tạm và công trình phụ được gia đình dùng làm bãi rửa xe. Đến năm 2005, khi thực hiện Dự án nâng cấp đại lộ Hoà Bình đã chiếm dụng cả hai phần đất trên của gia đình, tuy nhiên Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) của TP Móng Cái chỉ bồi thường cho ông thửa đất phía Nam, diện tích 551m2 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004), còn thửa đất phía Bắc có diện tích 1.456,3m2 không bồi thường (thửa đất này đã bị thu hồi 1.081,95m2 để làm đường, vỉa hè, còn lại 374,5m2 thành phố giao cho UBND phường Ninh Dương quản lý). Gia đình chỉ được hỗ trợ chi phí tôn tạo với số tiền là 21.104.955 đồng.
Tìm hiểu nguồn gốc khu đất của ông Hợp chúng tôi được biết, năm 1990, UBND xã Ninh Dương (nay là phường Ninh Dương) giao cho ông Vũ Văn Quyết, trú tại khu Hồng Kỳ 2.016m2 đất để sản xuất gạch, trong đó có 720m2 đất sử dụng làm sân phơi và lán trại; 1.296m2 để khai thác đất sản xuất gạch. Năm 1991, do ông Quyết làm ăn không hiệu quả nên UBND xã Ninh Dương đã thu hồi diện tích đất nói trên và giao lại cho ông Đỗ Trọng Huyến và ông Ngô Nhật Bối để sản xuất gạch. Sau đó ông Huyến và ông Bối đã chuyển giao cho ông Đặng Tiến, đến năm 1994, ông Tiến lại bàn giao lại cho ông Đinh Đức Hợp quản lý sử dụng. Sau một thời gian do việc sản xuất gạch không hiệu quả, đến năm 1997, gia đình ông Hợp đã tự chuyển sang đào ao thả cá, trồng cây và kinh doanh rửa xe. Ông Hợp không đồng ý với phương án bồi thường trên với lý do, năm 1993, ông Đặng Tiến chủ của phần diện tích đất trên đã nộp tiền sử dụng đất, gia đình ông Hợp đã nhận chuyển nhượng từ ông Tiến và đã ở ổn định không tranh chấp với ai từ năm 1997 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ việc, UBND TP Móng Cái cho rằng ông Hợp không được bồi thường phần diện tích đất phía Bắc là vì đất được giao không đúng thẩm quyền; ông Hợp không phải nộp tiền sử dụng đất khi được giao đất và không sử dụng liên tục cho một mục đích. Về nguyên tắc, đất của ông Hợp vốn là đất công được UBND phường Ninh Dương giao cho hộ gia đình, cá nhân nhằm mục đích sản xuất gạch và không thu tiền sử dụng đất. Về số tiền 1.359.500 đồng mà UBND phường Ninh Dương thu của ông Đặng Tiến năm 1993, lãnh đạo TP Móng Cái khẳng định chưa đủ cơ sở để cho rằng đó là tiền nộp để được sử dụng đất mà chỉ là tiền nộp lệ phí tài nguyên.
Tuy nhiên, theo hồ sơ thẩm tra của cơ quan Thanh tra tỉnh, tại bản xác nhận năm 1999 của UBND, UB MTTQ xã Ninh Dương về diện tích của ông Đinh Đức Hợp như sau: tổng diện tích đất gia đình đang sử dụng 2.016m2, bao gồm: Đất ở 107,55m2, đất ao 500m2, đất khác 1.409,55m2. Nguồn gốc đất được UBND xã Ninh Dương cấp năm 1992, đã chuyển nhượng qua một chủ, không có tranh chấp và thế chấp; ông Hợp có các giấy tờ về quyền sử dụng đất như đơn xin đất để sản xuất gạch được UBND xã Ninh Dương cấp, biên bản bàn giao đất, phiếu thu tiền... Theo kết quả thẩm tra của Thanh tra tỉnh thửa đất phía Bắc ông Hợp quản lý và sử dụng từ năm 1997 để đào ao, trồng rau và cây ăn quả sau đó làm bãi rửa xe từ năm 2003 (được xác định là đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp). Căn cứ vào khoản 1, điều 45 Nghị định 84 NĐ-CP quy định: “Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất theo quy định tại khoản 4, điều 14 Nghị định này thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a, khoản 3,điều 8 Nghị định 198 NĐ-CP. Giá đất thu tiền sử dụng đất là giá đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp cùng loại, trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp”.
Như vậy, xét về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đối với tổng thể diện tích đất và việc thu hồi đối với thửa đất phía Bắc để mở rộng đại lộ Hoà Bình của ông Hợp thì ông có đủ điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tuy nhiên ông phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định trên. Vì vậy việc ông Hợp đề nghị được bồi thường về đất đối với thửa đất phía Bắc là có lý. Mặt khác, việc TP Móng Cái thu hồi 374,35m2 đất phía Bắc của ông Hợp giao cho UBND phường Ninh Dương quản lý trong khi hiện tại thành phố chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với thửa đất này là không đúng. Vì vậy TP Móng Cái cần phải giao lại 374,35m2 trên cho ông Hợp quản lý, sử dụng, yêu cầu ông làm thủ tục với các cơ quan có thẩm quyền và khẩn trương làm thủ tục bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông Hợp theo đúng quy định.
Từ sự việc trên, UBND TP Móng Cái cần rút kinh nghiệm trong công tác lập hồ sơ nguồn gốc đất đai trước khi bồi thường GPMB, trong công tác quản lý đất đai, giao đất cho các hộ dân để sản xuất. Trong công tác bồi thường GPMB cần phải thực hiện đúng quy định của luật và các chính sách về bồi thường của Nhà nước, của tỉnh để đảm bảo quyền lợi cho người dân.
Đặng Nhung