Ngày 7-9, Tổ chức chuyên xếp hạng tài chính Standard & Poor’s (S&P) thông báo quyết định nâng hệ số tín nhiệm của Việt Nam thêm một mức lên BB, cao hơn 1 bậc so với Phillipines và Indonesia, nhờ vào những biến chuyển tích cực của tiến trình đổi mới nền kinh tế.
Theo Bộ Tài chính, việc S&P nâng hệ số tín nhiệm đối với VN là điều rất quan trọng khẳng định với các tổ chức tài chính quốc tế về năng lực của VN đang có chiều hướng phát triển và sẽ nâng lên một tầm rất cao trong tương lai. Đây cũng là cơ hội để VN thu hút các nguồn lực về vốn trong và ngoài nước.
Theo nhận định của các chuyên gia ở hãng định mức tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s, trong khi các công ty trong nước háo hức vay vốn từ bên ngoài thì Việt Nam vẫn có những biện pháp kiểm soát khá chặt chẽ nên tình trạng như Thái Lan những năm sau cơn sốt vay vốn sẽ khó xảy ra.
Bài học từ việc huy động vốn của các doanh nghiệp Thái Lan đầu những năm 1990 vẫn còn nguyên giá trị. Các công ty Thái lúc đó đã mải mê tìm cách huy động ngoại tệ mà không hiểu rõ các nguy cơ tiềm ẩn họ sẽ gặp phải khi đồng baht bị mất giá từ việc mua vào ngoại tệ mạnh.
Định mức tín nhiệm, cánh cửa cho các DN Việt nam tiếp cận với thị trường vốn quốc tế
Theo quan điểm của đại diện Bộ Tài chính, VN nên tận dụng cơ hội này để tiếp tục phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế.
Đây là cơ hội để tiếp cận với thị trường vốn thế giới qua việc phát hành trái phiếu quốc tế tạo nguồn vốn vay dài hạn cho nền kinh tế.
Mới đây, đại diện nhóm tư vấn xếp hạng của Citigroup đã nhận định: cơ hội để các doanh nghiệp cũng như Chính phủ VN phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế trong 5, 6 năm tới là rất lớn vì lãi suất toàn cầu đang ở trong thời điểm thấp kỷ lục trong lịch sử; phí thu được từ dịch vụ rủi ro tín dụng tiếp tục giảm và cộng với đó là việc bất chấp điều kiện thị trường thế giới biến động trong khi lần phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam hồi tháng 11-2005) đã được thị trường tiếp nhận một cách nồng nhiệt...
Sự đón nhận nhiệt tình đến bất ngờ đó được nhận định là do nhiều nguyên nhân từ chính Việt Nam. Thứ nhất, các nhà đầu tư quốc tế tin tưởng vào tương lai sáng sủa của nền kinh tế Việt Nam sau khi chứng kiến hơn 10 năm đổi mới vừa qua. Đến nay, hầu như toàn thế giới biết đến công cuộc cải cách đổi mới ở Việt Nam. UNDP còn coi Việt Nam là một trong những ví dụ thành công nhất về chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại, đổi mới làm thay đổi gần như tất cả mọi mặt của cuộc sống kinh tế.
Theo Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, ông Jordan Ryan, từ sau Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI (12-1986), đã có nhiều thay đổi quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, chính sách tiền tệ và ngoại thương. Chính sách đổi mới mở ra nhiều phương thức tổ chức và quản lý kinh tế mới mẻ, góp phần cải thiện đời sống; tạo ra nguồn động lực sáng tạo cho hàng triệu người Việt Nam có dịp sử dụng một cách hiệu quả tiềm năng của mình.
Về cơ bản, kinh tế của Việt Nam đã được công nhận là đổi mới: Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; Chuyển một nền kinh tế khép kín, nhập khẩu là chủ yếu sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế và có hiệu quả...
Thứ hai, các nhà đầu tư tỏ ra lạc quan với việc Việt Nam được coi là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thứ hai châu Á, chỉ sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, phải kể đến việc sụt giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với trái phiếu cùng loại của Indonesia và Phillipines do tình hình kinh tế chính trị các nước này thời gian qua không ổn định lắm.
Số tiền thu được sẽ được bơm thêm vào nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình từ 7 - 8% của Việt Nam, cùng với việc đầu tư nước ngoài đang tăng nhanh tại đây.
Việt Nam đã rút ra nhiều bài học từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực trong suốt 20 năm qua và đang có những chiến lược kinh tế tài chính được đánh giá cao. Chính phủ đã có kế hoạch 5 năm sắp tới (2006-2010) là thời gian quyết định để thực hiện chiến lược đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng nước đang phát triển ở trình độ thấp và tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại.
Các nhà đầu tư hy vọng chiến lược đó sẽ giúp họ hưởng lợi lớn trong tương lai khi bỏ tiền vào Việt Nam để cùng Việt Nam bước vào công cuộc cải cách mới.