Việt Nam: Ung thư vú đứng hàng đầu trong nữ giới

Trên thế giới, cứ 5 phụ nữ, có 1 người chết do ung thư vú. Trong khi đó, tại Việt Nam, ở Hà Nội và TP.HCM, bệnh ung thư vú chiếm tỷ lệ 20- 30% trong số các bệnh ung thư.

Tại hội thảo chuyên đề “Liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú” ngày 9-9, PGS.BS Nguyễn Chấn Hùng cảnh báo tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú trên phụ nữ ngày càng tăng và ung thư vú ngày càng có khuynh hướng trở thành loại ung thư thường gặp nhất.

Tại Hà Nội, ung thư vú chiếm 30%, còn TP.HCM, khoảng 20%. Trong khi ung thư cổ tử cung chỉ còn 16,5%.

Theo một báo cáo nước ngoài khác từ Trường Y Vienna (Vienna Medical School) - Áo, ung thư vú là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Cứ 5 phụ nữ thì có một người tử vong vì ung thư vú.

Biểu hiện lâm sàng của ung thư vú: cục trong vú, da dầy lên hoặc biến đổi, da cam, da co kéo, núm vú bị lún hoặc xù xì, tiết dịch núm vú một bên.

Tuy nhiên, PGS.BS Nguyễn Chấn Hùng cũng nhấn mạnh với những tiến bộ về bệnh ung thư vú, hiệu quả của việc chẩn đoán và khả năng xử lý cũng được cải thiện. Phối hợp điều trị đa mô thức: phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, nội tiết, liệu pháp trúng đích là nguyên tắc trong điều trị ung thư.

Ở nhiều nước tiên tiến, nhiều ung thư vú được chẩn đoán sớm, lúc đó nguy cơ tử vong giảm xuống khoảng 30%. Phần lớn những người bị ung thư vú nguyên phát được xử lý liệu pháp tại chỗ bảo tồn vú, và được bổ sung liệu pháp toàn thân hỗ trợ (hoá trị và/ hoặc nội tiết) nhờ đó nguy cơ tử vong giảm từ 25 đến 50%. Trong đó, 30% người bệnh sống còn 15 năm.

Những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ: bệnh sử có ung thư vú, tuổi đời gia tăng, bệnh sử ung thư vú gia đình, có kinh sớm, mãn kinh trễ, không có con, phơi nhiễm bức xạ ion hoá sớm, gien đột biến, dùng nội tiết estrogen thay thế lâu dài sau mãn kinh, uống rượu.