"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"?

Công ty lữ hành chỉ là mắt xích cuối cùng, sử dụng cơ sở hạ tầng do các ngành khác tạo ra để đem lại kết quả cuối cùng là nguồn thu từ du khách. Nếu các ban, ngành, địa phương không có tầm nhìn xa, cách nghĩ lớn, thì các công ty lữ hành cũng đành bó tay.

Du khách thực sự quan tâm đến cái gì?

Tàu nước ngoài đưa du khách tham quan Vịnh Hạ Long. Ảnh: PH

Tàu nước ngoài đưa du khách tham quan Vịnh Hạ Long.
                                                      Ảnh: PH

Hoạt động lữ hành có hai bộ phận: đón khách nước ngoài (inbound tour) và đưa khách nội địa du hí nước khác (outbound tour). Về mặt kinh tế vĩ mô, chỉ hoạt động inbound mới đem lại ngoại tệ, đóng góp vào GDP như một ngành xuất khẩu tại chỗ, trong khi hoạt động outbound, trái lại, chính là nhập khẩu dịch vụ nước ngoài, tiêu tốn ngoại tệ. Cho nên nói đến việc thu hút khách ở đây là nói đến du khách nước ngoài - đặc biệt là trong thời khủng hoảng kinh tế toàn cầu, riêng nước ta còn kèm thêm nhập siêu như hiện nay.

Dĩ nhiên nói thế không có ý là nên hạn chế du lịch outbound, vì ông cha ta từng dạy “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, tuy nhiên nếu xem xét du lịch như một ngành kinh tế quốc dân thì trước hết phải tập trung vào du lịch inbound. 

Muốn thu hút du khách, trước hết cần biết khi du lịch người ta quan tâm đến cái gì. Theo một khảo sát được tiến hành trong số những người mới đi du lịch về, khi được hỏi họ có cảm tưởng, ấn tượng gì, thì câu trả lời thu được theo thứ tự như sau: đã thăm quan cảnh đẹp này, danh thắng nọ, di tích kia; đã có ấn tượng thế này về người dân, phong tục tập quán bản xứ; đã thưởng thức các món ăn độc đáo ra sao; đã shopping ở chỗ này chỗ nọ, giá cả ra sao, hàng hóa thế nào, thái độ của người bán v.v… Rất ít người đề cập tới khách sạn nơi họ nghỉ lại; chỉ khi nào họ nghỉ tại các khu resort sang trọng thì mới có ấn tượng gì đó. 

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 2

Tháp Chàm.

Như thế vấn đề nơi lưu trú - các khách sạn - té ra ít gây ấn tượng hơn cả. Nếu có, thì phần nhiều là khi nào khách sạn gây ấn tượng xấu thì khách mới nhớ. Ta có thể rút ra kết luận: khách sạn tuy quan trọng, nhưng chỉ ở hàng thứ yếu, miễn đừng quá tệ khiến khách hàng kêu ca, phàn nàn là được. Còn lại, thì dù ở khách sạn 3 sao hay 5 sao đối với đại đa số du khách là như nhau.

Do trang thiết bị phòng ốc, chất lượng dịch vụ của các khách sạn nói chung không chênh lệch nhau nhiều, nên chỉ có quy mô khách sạn mới gây ấn tượng đối với du khách: khách sạn lắm phòng, mặt bằng rộng, có bể bơi (mặc dù chẳng mấy ai sử dụng) thường được đánh giá cao hơn khách sạn nhỏ, ít phòng, không có khuôn viên, bể bơi.

Một số tiêu chí để xếp loại khách sạn đạt mấy sao như có hay không phòng hội nghị, business center, post office, sân tennis, phòng thể thao v.v… thực ra không được du khách quan tâm lắm, nếu như họ đi du lịch chứ không phải tham gia hội thảo hay đi làm ăn, và đối với họ thì khách sạn chỉ là nơi nghỉ ngơi qua đêm. 

Như vậy trước hết cần tập trung cải thiện các sản phẩm du lịch như nơi tham quan, vui chơi, ẩm thực, mua sắm. Điều này nhiều người đã nói, có lẽ không cần lặp lại. Chỉ xin lưu ý: công việc này ngoài khả năng của các công ty lữ hành.  

Cần một Phó thủ tướng phụ trách ngành công nghiệp không khói 

Du lịch là một ngành đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó công ty lữ hành chỉ là mắt xích cuối cùng, sử dụng cơ sở hạ tầng do các ngành khác tạo ra để đem lại kết quả cuối cùng là nguồn thu từ du khách. Nếu các ban, ngành, địa phương không có tầm nhìn xa, cách nghĩ lớn, thì các công ty lữ hành cũng đành bó tay.

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 3

Phố cổ Hội An.

Chẳng hạn, nếu như Bộ Tài chính đừng tiếc mấy chục đồng tiền lệ phí visa thì có lẽ lượng khách đã tăng lên nhiều, và nguồn thu từ đây chắc chắn cao gấp nhiều lần số tiền thu được từ lệ phí visa đó. 

Cũng về chuyện visa, cách làm của Bộ Công an hiện nay là coi ai cũng đáng nghi, vì thế tất cả du khách đều phải chịu xét duyệt, và chỉ ai được phép của Bộ Công an thì mới được nhập cảnh. Thực ra  có thể làm khác đi: chỉ những ai có tên trong “sổ đen” thì mới không được nhập cảnh. Bộ Công an có thể thông báo cho các đại sứ quán danh sách này, trên cơ sở đó đại sứ quán cấp visa cho du khách mà không cần chờ trong nước xét duyệt như hiện nay.

Rõ ràng là số du khách lương thiện đông gấp bội số du khách “có vấn đề”, nên việc xét duyệt, cấp phép cho hàng triệu người đàng hoàng thực tế chỉ mất thời gian, công sức một cách vô ích, trong khi lẽ ra chỉ cần tập trung vào một nhóm nhỏ những người “có vấn đề” thì đỡ tốn công sức hơn rất nhiều. Cái này trong kinh tế người ta gọi là nguyên tắc Pareto 80/20: phần lớn công sức của ta tiêu phí vào những việc vô ích, và thực sự chỉ có 20% công sức được sử dụng đúng chỗ và mang lại tới 80% kết quả.

Hơn nữa, đối với những nước mà chúng ta miễn thị thực cho công dân của họ, thì cơ quan quản lý xuất nhập cảnh chỉ còn và vẫn phải tập trung sự chú ý vào các nhân vật có vấn đề, càng cho thấy cách xét duyệt tràn lan như hiện nay là hết sức bất hợp lý. 

Nếu các địa phương do thiếu tầm nhìn xa, dài hạn, chỉ biết chạy theo những lợi ích ngắn hạn, thiển cận mà cho xây cất khách sạn, khu nghỉ dưỡng tùm lum, phá nát cảnh quan, môi trường, chẳng chóng thì chầy du khách cũng sẽ tẩy chay. 

Tóm lại, do đặc thù như vậy nên một mình Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch, và cơ quan cấp dưới trực tiếp quản lý lĩnh vực này là Tổng cục du lịch, với khả năng, quyền hạn hết sức hạn chế khó có thể thay đổi được điều gì.

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 4

Việt Nam tươi đẹp.

Tổng cục du lịch có kêu gào, năn nỉ, kiến nghị đến mỏi miệng thì cũng chưa chắc đã có ai nghe. Có lẽ sẽ hợp lý hơn nếu ngành du lịch do một Phó thủ tướng đứng đầu, người có đủ quyền chỉ thị cho các Bộ, ban ngành liên quan tiến hành các động thái cần thiết phục vụ cho mục đích chung.

Ví dụ như lệnh cho Bộ Ngoại giao mau chóng tiến hành đàm phán với các nước để thực thi quy chế miễn visa; chỉ thị cho Bộ công an thay đổi phương thức xét duyệt nhân sự cấp visa; chỉ thị cho Bộ Tài chính bỏ lệ phí visa; lệnh cho Bộ Giao thông vận tải thay đổi các quy định về hạn chế tốc độ một cách bất hợp lý trên các tuyến đường;  yêu cầu Bộ VH - TT - DL, Bộ Tài nguyên - Môi trường và UBND các địa phương có biện pháp bảo vệ các di tích, danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên; yêu cầu UBND các tỉnh thành lập cảnh sát du lịch, thẳng tay dẹp bỏ nạn đeo bám du khách, hủy bỏ các quy định bất hợp lý về thời gian hoạt động của các cơ sở vui chơi, giải trí về buổi đêm v.v…

Nếu như ngành công nghiệp không khói mỗi năm đem lại hàng tỷ đô la, thì việc cử riêng một Phó thủ tướng phụ trách lĩnh vực này thiết nghĩ không có gì là quá mức. 

Đó là về mặt vĩ mô, ở tầm Chính phủ quyết định. Bây giờ đến một vấn đề khác, cũng đã được nói đến nhiều nhưng kết quả chẳng đạt được mấy, buồn ơi là buồn: vấn đề quảng bá du lịch. 

Quảng bá văn hóa thay vì quảng bá du lịch 

Sáng nào người dân Việt Nam cũng được xem chương trình quảng bá du lịch trên kênh VTV1, ngay sau bản tin buổi sáng. Người xem rất thắc mắc: làm thế để làm gì? Những người làm chương trình quảng bá đó nhắm đến ai, đến du khách nội địa chăng? Trong khi đối tượng cần nhắm phải là du khách nước ngoài kia. 

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 5

Thác Ponguar, Đà Lạt.

Quảng bá du lịch dĩ nhiên là cần thiết, nhưng nếu chỉ hạn chế trong lĩnh vực du lịch và do ngành du lịch tiến hành thì khó mà có hiệu quả. Hãy thử hỏi một du khách nào đó: vì sao đến Trung Quốc họ lại nhất thiết phải đến thăm Tử Cấm Thành, Trường Thành; tại sao đến Paris lại cứ phải tới xem Nhà thờ Đức bà, khu Latin, bảo tàng Louvre?

Nhiều phần họ sẽ trả lời: là vì ở trong nước họ đã được nghe, được đọc, được xem rất nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh có nói về các địa danh, di tích đó, và muốn tham quan tận mắt. Để xem nó có như sách vở miêu tả, như trong hình dung của họ không. Và chí ít để sau đó, trong lúc trà dư tửu hậu, có ai đó nhắc tới các địa danh nói trên, họ có thể tự hào mà nói rằng họ đã đến chỗ đó rồi, lạ gì! 

Như thế thay vì quảng bá các sản phẩm du lịch đơn lẻ, chúng ta cần quảng bá toàn bộ nền văn hóa của mình. Đây là nhiệm vụ của các nhà hoạt động văn hóa như nhà văn, nhà điện ảnh, thông qua các tác phẩm của họ.

Ví dụ, sau khi có bộ phim “”Cầu sông Kwai” ai đến Thái Lan cũng muốn ngó cây cầu đó một cái mới yên tâm, mặc dù bản thân cái cầu đó chẳng có gì đặc biệt, thua xa cầu Hiền Lương nối hai bờ Nam Bắc sông Bến Hải của chúng ta. 

Tuy nhiên với khả năng của giới văn nghệ sĩ, điện ảnh của chúng ta hiện nay, công việc này e quá sức. Thành thử, du khách đến Việt Nam với hình dung trống rỗng về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa nơi đây. Mà đã thế thì du khách khó có ham muốn chủ động tới thăm Việt Nam. Nếu có đến thăm, thì những lời giới thiệu của hướng dẫn viên về một địa danh, một sự kiện nào đó khó gây ấn tượng mạnh mẽ. Nhiều phần là khi quay về nước mình họ sẽ quên sạch những điều họ vừa được nghe, được thấy, và hiếm có khả năng họ hào hứng kể lại cho bạn bè, người quen của họ với lời khuyên “phải đi du lịch Việt Nam đi, sang đó nhất thiết phải tham quan chỗ này, chỗ kia nhé, hay cực!”. 

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 6

SaPa - Lào Cai.

Liệu chúng ta có thể hy vọng các nhà văn, điện ảnh của ta tạo nên các tác phẩm gây tiếng vang tầm quốc tế, đoạt giải Nobel hay Oscar, Cành cọ vàng, từ đó tạo nên cơn sốt du lịch Việt Nam hay không? Nếu nói rằng “không”, thì e làm mếch lòng các nhà văn, các đạo diễn vốn có lòng tự tôn rất cao của chúng ta, nhưng nếu nói “có thể chứ” e lại bị mọi  người cười cho thối mũi vì lạc quan tếu! 

Thôi thì thế này: Trong khi tự chúng ta chưa đủ sức làm nên các tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng như tiểu thuyết Pháp, phim ảnh Mỹ, thì trước mắt có thể khai thác chính các tác phẩm nước ngoài có liên quan đến Việt Nam, ví dụ như khai thác các địa danh, biến cố được miêu tả trong tiểu thuyết “Người Mỹ thầm lặng” của nhà văn Graham Green, hay tiểu thuyết “Trời và đất đổi chỗ cho nhau” (Heaven and Earth change places) của một phụ nữ Việt sống tại Mỹ và bộ phim của đạo diễn Oliver Stone dựa theo tác phẩm đó “Giữa trời và đất” (Between Heaven and Earth); hoặc các bộ phim “Trung đội”, “Sinh ngày 14 tháng 7” cũng của O. Stone chẳng hạn. 

Công việc này các công ty lữ hành có thể tự thực hiện. Dĩ nhiên đây chỉ là biện pháp tình thế, không căn cơ, nhưng biết làm sao được khi nội lực của chúng ta có hạn.  

Mâu thuẫn trong phát triển du lịch 

Cuối cùng cần nói đến một mâu thuẫn trong phát triển du lịch. Càng ngày du khách càng có khuynh hướng tìm đến những nơi còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, tự nhiên, càng ít dấu vết con người càng tốt. Những chỗ như thế ở nước ta không thiếu.

"Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn" bao giờ hết "tiềm ẩn"? ảnh 7

Thác Bản Dốc - Cao Bằng.

Bãi biển Đại Lãnh là một ví dụ: ai đi ngang qua đó cũng phải trầm trồ trước vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Tuy nhiên Đại Lãnh chỉ đẹp đẽ, nên thơ khi nó còn hoang sơ, yên ả. Nếu có bàn tay con người động vào, nếu trên bãi biển đó mọc lên khách sạn, nhà hàng, với sự hiện diện của hàng ngàn du khách nhốn nháo, náo loạn (nhất là du khách trong nước), liệu nó còn đẹp nữa không? Thành ra, mỗi lần đi ngang qua Đại Lãnh, nhìn ngắm bãi biển thanh bình đó, trong lòng những ai yêu thiên nhiên luôn có hai luồng cảm xúc trái ngược: một mặt thấy tiếc vô cùng vì chưa khai thác được báu vật đó, mặt khác lại thấy mừng là chưa ai động đến Đại Lãnh! 

Như thế, khai thác vốn thiên nhiên ban tặng là một việc không hề dễ dàng, và luôn tiềm ẩn nguy cơ phá hủy chính cái nguồn vốn đó. Việc này đòi hỏi phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng, và có lẽ chúng ta cần phải học hỏi các nước khác trong việc làm thế nào vừa giữ được vẻ hoang sơ, tự nhiên của cảnh quan, vừa khai thác được nó.