Viết về người thợ

Có một bạn đọc viết thư hỏi tôi:- Tôi đọc anh nhiều. Thật ngạc nhiên thấy anh viết đến lắm loại thợ. Cứ như anh chui từ công việc của họ ra. Vì sao anh có vẻ thông thuộc và hoà đồng cùng họ như thế?

Tôi trả lời:

- Anh hỏi thì tôi chỉ biết vậy. Viết về người thợ đối với riêng tôi như cơm ăn nước uống thường ngày, như không khí mình thở, tự nhiên và nhi nhiên. Mình sống ở mỏ, quanh năm tiếp xúc với mọi người thợ, mình động bút là viết về họ rồi, chả phải nghĩ suy gì nhiều, cũng chả phải đắn đo gì lắm. Nhiều nhà văn khác cũng viết như tôi thôi.

Viết về người thợ ảnh 1

Thợ sửa ô tô Công ty CP Than Núi Béo.
                                             Ảnh: Hoàng Quý

Đấy là các trang viết của Võ Huy Tâm về thợ lò, của Sỹ Hồng thợ máy xúc, của Tô Ngọc Hiến thợ cơ khí, của Nam Ninh thợ điện, của Phan Thanh thợ lái xe... Các anh viết vậy, tự nhiên vậy, vì cuộc đời các anh trực tiếp gắn bó với các loại thợ ấy. Các anh sáng tác hầu như tập trung về chính những công việc quen thuộc. Các tác phẩm thật đáng để đời, góp phần làm sáng lên tâm hồn những người thợ, xưa hầu như khuất bóng trong văn học. Các tiểu thuyết “Vùng mỏ”, “Thành phố thời mở cửa” “Hãy cho tôi sống lại”, “Chúc thư cho kẻ vị thành niên”, tập truyện “Trong phòng trung tâm”... rất xứng đáng được đọc đi đọc lại. Cùng với nhiều bạn bè khác, các trang viết của họ lấp lánh phẩm chất của từng loại thợ khác nhau, dựng nên một nền văn học cách mạng đổi đời, lay động bao tâm hồn người đọc, không dưng mà có được.

Tôi cũng trưởng thành trong không khí đó. Mình làm báo, từng đi lại, từng tiếp xúc, từng chứng kiến biết bao chuyện về chính người thợ. Mình cầm bút viết như lẽ thường tình và hình ảnh người thợ xuất hiện cũng thật đương nhiên. Vừa qua, Tổng Công ty Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam có nhã ý nhắc tôi tập hợp truyện viết về Than. Tôi cảm động soạn thành một tập dày dặn, gần 50 truyện 850 trang in khổ lớn, bìa cứng. Tôi đọc lại, mình cũng ngạc nhiên trước chính mình, sao có thể hiểu nhiều loại thợ, biết nhiều ngóc ngách về cuộc đời họ đến thế.Khác với bạn bè văn chương, chú ý viết rộng hơn, tổng quát hơn, xã hội hơn về chính bản thân mỗi chuyện, mỗi con người cụ thể. Nó chung đấy mà cũng riêng đấy. Nó hiển diện một đội ngũ công nhân đa dạng, đa nghề, đa tính cách. Nó là một vùng mỏ thu nhỏ, một hiện thực than sầm uất, có thể nhìn rõ, có thể nắm chặt. Bao nhiêu năm trời, bao nhiêu hoạn nạn, bao nhiêu kiếp người, từ chống Pháp, chống Mỹ cùng các loại giặc giã khác đến dựng xây xã hội đời mới. Tất cả hiện ở trang viết của mình, sâu nông khác nhau, nhưng nó là văn học, tất nhiên phải thế. Nó nói với mọi người về tấm lòng mình, một nhà văn như mọi nhà văn cùng thời của hôm qua và hôm nay.

Tôi đã viết về Hà, cô quản đốc mới của công trường than lộ thiên: “Hà suốt ngày đêm đánh vật với than, chạy điện cho băng tải, chạy xe chở than, chạy cả người xúc thủ công nữa. Than lù lù từng đống, ai nhìn chẳng xót ruột. Hà nói: “Cái khó ban đầu mà vượt được thì những cái khó sau mới dễ thắng nổi”...”. Đó là tấm gương phụ nữ mỏ trong phong trào “ba đảm đang” năm chống Mỹ, những dòng đầu của truyện ngắn “Than con gái” đăng báo Văn nghệ số 12-8-1966, cách đây 42 năm.

Truyện “Than” tiếp đó nói về tấm gương cô gái địa chất, khác với bố cô, con đường đến than bằng đường biển, cô đến bằng đường rừng. Truyện “Vợ chồng ông già mù” lại nói về tấm lòng thuỷ chung sắt son của hai người thợ lò. Truyện “Đêm mưa” là hai ông bạn già gác máybơm nước cho mỏ năm Mỹ đánh ác liệt. Truyện “Khoảng không của đất” kể với bạn đọc về một tổ đi lò xuất sắc, bất chấp khó khăn thiếu nước thiếu dầu. Này đây là truyện “Hôm nay của than”, viết về ngành Than năm gian khó nhất, truyện “Bố con người thợ ấy” nói sâu danh dự của người thợ hàn, truyện “Người ơi người ở...” về đội ngũ thợ xây dựng. Tôi đã viết về ông già Khoáng thợ lò Mạo Khê những ngày đầu dựng mỏ qua “Người đãi vàng”, về một con người bình thường năm chiến tranh “Đêm ấy vùng than ai thức” được in bằng năm thứ tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Lào), về cuộc đời người nông dân tạm xa quê hương lên đường ra mỏ, học bao điều hay, lẽ phải cuộc sống công nghiệp “Tháng giêng” hoặc “Hành trang tới mỏ”. Chao ôi, biết kể ra đây những truyện gì nữa. Như “Ở nơi hòn than rửa sạch”. Như “Đất liền và đảo nước”. Như “Người bán than rong”. Như “Mấy tuần mưa dữ”. Một mảnh đất nhỏ nhắn mà thay đổi rạng rỡ ngỡ có phép thần: “Giếng Đồn”. Một khu rừng mở mỏ mới đêm ngày ầm ầm xe máy chạy: “Ngày ấy còn rừng rậm”. Một tốp kỹ sư mỏ chật vật tìm than nâu cho xi măng: “Câu chuyện ngắn về con đường dài”. Khoảnh khắc đổi thay quê hương, đổi thay con người qua “Giai điệu thành thị” và “Hạt mưa bay ngang”. Những “Ô vuông than” từ đây dấy lên. Những “Gió hát” từ đây mở rộng. Một vùng mỏ để “Gắn bó”. Một “Vùng quê để nhớ”. Truyện ngắn, truyện vừa liên tiếp ra đời, gối nhau xuất hiện. Hiện thực đất than đồng loạt mở ra. Những người thợ như hư như thực cùng lúc xuất hiện. Tập sách như ký gửi tấm lòng người viết với bao cốt truyện xảy tới, thành công có, thất bại có. Nó góp phần cùng bản đồng ca của người viết, ca lên những vất vả, lo toan, của những người thợ lao động cần lao...

Cho đến nay, từ truyện ngắn được in đầu tiên, thoắt đã 44 năm. Từng ấy năm là từng ấy nghĩ suy, viết thế này, bỏ thế khác, như bổ củi, gối đất nằm sương mà thành. Cầm cuốn sáchnặng tay mà ngỡ ngàng. Nó là của mình, lại như không phải của mình. Nó là của những người thợ mình gặp, của đồng đội. Nó nhắc nhủ mình phải tiếp tục học nữa, học mãi. Mỗi người thợ thật sự một tính cách. Mỗi nghề thợ lại chứa đựng những đặc điểm kỳ diệu khác nhau. Cùng làm mỏ nhưng thợ lò không giống thợ lộ thiên. Cùng nghề rèn, nhưng rèn thủ công khác xa rèn cơ khí. Cùng xây dựng, nhưng hàn đứng, hàn nghiêng khác hẳn nhau. Những động tác kỹ thuật ấy mình phải biết và phải biết chắc. Biết để khi viết đỡ lúng túng gặp những tình huống đột xuất. Nhưng cao hơn sự biết chính là hiểu tâm hồn họ. Tâm hồn là cái cần đến sự khám phá, sự sáng tạo của mỗi người viết văn. Dòng văn có ăn sâu vào tâm khảm người đọc là nhờ chính sự khám phá ấy. Người ta nói viết về công nghiệp khó, chính là khó bởi sự hiểu biết còn mỏng, cách thể hiện còn đơn giản và chưa thể súc tích.

Tập tuyển truyện viết về Than của tôi là minh chứng cho những năm tháng cậy cục học tập, là kết quả của những nghĩ suy âm thầm, là thu hoạch của những cố gắng cô đơn. Viết về người thợ lúc này chính là lương tâm là phẩm chất người cầm bút. Không thể nhởn nhơ đứng ngoài chỉ dẫn lung tung. Làm sao để người đọc nhận ra những trang viết ấy đang nói về chính họ, những con người làm chủ cuộc đời, làm chủ xã hội. Liệu bài học nho nhỏ ấy giúp cho bản thân được những gì, nhưng tôi vẫn phải cố thôi, các trang viết của mình dù sao vẫn còn bé hỏng, chưa ăn nhằm thấm tháp nỗi nào!