Với hai tác phẩm thơ ''Nhà thơ và hoa cỏ'' và ''Bản xô nat hoang dã'' nhà thơ Trần Nhuận Minh đã ghi danh là người thứ hai của Quảng Ninh được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật. (Trước đó là nhà văn Võ Huy Tâm, được truy tặng giải thưởng này vào năm 2001)...
Những tưởng sau hai tác phẩm gây được tiếng vang ấy, nhà thơ phải... nghỉ ngơi đã; nhưng không, ông lại vừa cho ra mắt một tác phẩm mới, như một món quà đầu xuân tới bạn đọc: 45 KHÚC ĐÀN BẦU CỦA KẺ VÔ DANH...
Nhân dịp xuân mới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ...
- Thưa nhà thơ Trần Nhuận Minh, năm 2007 với ông quan trọng như thế nào, khi cùng một lúc, hai tập thơ của ông (“Nhà thơ và hoa cỏ” và “Bản xô nat hoang dã”) đều được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật?
Nhà thơ Trần Nhuận Minh.
- Rất dễ nhận ra điều này: Tập thơ ''Nhà thơ và hoa cỏ'' (hay kể cả các tập đã xuất bản trước đó nữa), ông đều tuyển chọn có chủ ý, sau khi những bài thơ đã được sáng tác ở các thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau, nội dung và thậm chí cả chủ đề từng bài, cũng khác nhau; còn ''Bản xô nat hoang dã'', và mới đây hơn, “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh'', thì không như vậy! Hình như chúng được gắn với nhau liền mạch theo một logic nào đó của cảm xúc, của hình tượng mà ông đã hình dung rõ ràng cho cả tác phẩm trước khi viết... Cái đó có nói lên điều gì không trong nhận thức, cũng như trong quan điểm sáng tác, phong cách sáng tác v.v... của ông trong từng giai đoạn? Và như thế, về mặt thể loại, ta nên gọi nó là gì đây? - Truyện thơ? - Trường ca? - Hay đặt cho nó một cái tên mới?
+ Đúng là với hai tập thơ bạn vừa kể trên, tôi đã làm khác hẳn. Cả tập gồm nhiều bài hay nhiều khúc, chúng độc lập với nhau, khác nhau, nhưng lại liền mạch với nhau trong cùng một cảm xúc, hình tượng và kết cấu. Thậm chí, có chung hai nhân vật chính, là cái tôi trữ tình và đối tác của nó, trong sự tương tác lẫn nhau. Nhà thơ Hữu Thỉnh có lần nói rằng, tôi đã mở ra trong thơ xu hướng đối thoại... Còn thể loại của nó ấy à, rõ ràng đây không phải là một tập thơ tập hợp nhiều bài như thường thấy, nhưng cũng không phải là trường ca, truyện thơ... Theo tôi, nó nằm giữa hai thể loại ấy. Và vì thế, nó khai thác được lợi thế của cả hai thể loại trên. Tôi gọi vui là liên hiệp thơ... Nhưng thôi, đó là vấn đề lớn của học thuật. Nếu quả thực là nó thành công thì rồi các nhà phê bình và bạn đọc sẽ tìm ra cho nó một tên gọi...
Còn bạn bảo cái đó nói lên điều gì ư? Tự khắc mình và tự vượt qua mình - Đó là cố gắng không mệt mỏi của tôi. Tôi coi tất cả những điều ấy là sự sống còn trong lao động nghệ thuật của mình!
- Có nhà phê bình văn học nói, với hai tác phẩm này, nhà thơ Trần Nhuận Minh chắc sẽ ''kiệt sức'' vì đã ''đi đến tận cùng cái thực và cái ảo trong nghệ thuật''. Nhưng rồi cuối năm 2007 vừa qua, ông lại cho ra đời “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh''. Ông nói gì về điều này? Đây liệu có phải lại là một cuộc ''lột xác'' nữa không?
+ Ôi chao? Điều ấy thì phải dành cho các nhà phê bình và bạn đọc phán xét. Còn tôi, xin phép để có thể được thưa trước một điều: Không có cái mới trong tư duy nghệ thuật và không thấy chuyển động trong thi pháp thì tôi không viết. Một tác phẩm, nếu cùng một lúc, không đến với tôi cả ba điều này: một là ý tưởng mới; hai là kết cấu mới và ba là giọng điệu mới, thì tôi không viết. Còn có đủ các điều ấy rồi, có viết được hay hay không, đấy lại là chuyện khác...
- Vậy so với “Bản xô nat hoang dã'', “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh'' có điều gì khác, mới hơn?
+ Nếu ''Bản xô nat...'' xoay quanh vấn đề Con Người với cõi Vô Cùng, thì ''45 khúc đàn bầu...'' lại xoay quanh Con Người với Cái Thiện, trong sự trường tồn càng ngày càng mong manh của nền văn hoá dân tộc. ''45 khúc đàn bầu...'' lên án sự tha hoá trong tâm hồn con người khi cái ác còn ngự trị, và vì thế nó giàu giá trị nhân văn hơn! Nếu ''Bản xô nat...'' hướng tới sự siêu thoát, thậm chí tới cái Không Tuyệt đối theo tinh thần của đạo Phật, thì ''45 khúc đàn bầu...'' là sự tổng kết lẽ đời, chiêm nghiệm những vấn đề của kiếp sống nhân sinh, nó gần với đời sống dân gian hơn, người đọc bình thường thấy dễ hiểu hơn...
- Hình như với ông, tư tưởng Phật giáo có một ý nghĩa rất lớn? Như cách ông gọi Cái Ta trong thơ là Vô Danh chẳng hạn; đặc biệt hơn, khi ông sáng tạo ra một nhân vật rất mới: Đấng Âm U - mà ông đã chú thích ở ngay đầu tác phẩm là bắt nguồn từ Kinh Phật. Vậy nhân vật đặc biệt này đã đến trong quá trình sáng tạo của nhà thơ như thế nào?
+ Đúng! Tôi rất thích Kinh Phật! Và tôi phải thưa ngay với bạn rằng, tôi tin vào thuyết định mệnh và thuyết nhân quả, hai thuyết mà cụ Nguyễn Du xưa đã tin khi viết Truyện Kiều. Trong Cung oán ngâm khúc của cụ Nguyễn Gia Thiều, có hai câu thơ rất nổi tiếng: ''Cái quay búng sẵn trên trời/ Mờ mờ ảo ảo như người đi đêm'' cũng là xuất phát từ một quan niệm của đạo Phật. Trong Kinh Phật có Vô Minh mà tôi lấy làm cơ sở để xây dựng nhân vật Đấng Âm U; theo đó, Đấng Âm U sinh ra thế giới và khởi thuỷ 12 mối nhân duyên của kiếp người, để từ đó mà hình thành các số phận, đeo bám mỗi chúng ta từ thuở sơ sinh cho đến ngày tận thế. Trong Kinh Phật, Đấng Âm U chỉ là một khái niệm vô hình, mờ nhạt, còn trong tác phẩm của tôi, là một nhân vật xuất hiện qua nhiều chương khúc với vóc dáng, phẩm chất và cá tính, vừa rõ ràng vừa không rõ ràng, với các kiểu hành xử khác nhau ở trên chín tầng mây trắng. Đó là sức mạnh của siêu nhiên, trong cõi mịt mờ. Mươi năm trước, có nhà phê bình nói rằng, cái cao nhất của thơ là triết học, lại có nhà phê bình cãi rất hay lại rằng, cái cao nhất của thơ vẫn chỉ là thơ mà thôi. Tôi cho rằng cả hai vị ấy đều đúng! Và ở tác phẩm này, tôi viết dưới cả hai ánh sáng ấy. Cái cao nhất của thơ là triết học và cũng là thơ. Nghĩa là ngoài thơ có nhuốm màu triết học, nó không tựa vào bất cứ cái gì, cũng không nhờ có bất cứ cái gì để nó được tồn tại.
- Đúng là yếu tố triết học đã thấm đẫm hơn trong 2 tác phẩm thơ gần đây của ông so với những tập thơ trước đó. Không biết có phải vì thế mà có người nhận xét rằng đọc chúng, càng đọc càng thấy mung lung, như mình lẫn vào trong đám mịt mờ sương khói nào đó... Ông nghĩ sao về điều này?
+ Người sáng tác đích thực bao giờ cũng thấy mình cô độc và mong manh. Vì thế, VV. Sếchxpia chỉ mong trên đời này có được một người hiểu mình; và Nguyễn Du cũng chỉ mong 300 năm sau khi chết, có được một người khóc mình. Nhà thơ Chế Lan Viên bảo: Bài thơ anh làm một nửa mà thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm lấy... Hôm qua, tôi đã trả lời một vị giáo sư dịch thơ tôi ra tiếng Anh; ông hỏi tôi rằng với tư cách là tác giả, tôi đã hiểu như thế nào khi viết câu thơ: ''Khách khứa dập dìu lá gió/ Đêm đêm chớp bể mưa nguồn...'' (trong bài Mợ Hữu), để ông ấy dịch cho sát nghĩa... Bạn có biết tôi trả lời thế nào không? Tôi bảo: - Thưa giáo sư, giáo sư hiểu như thế nào thì cứ như thế mà dịch ạ! Vì không tác giả nào có thể suốt đời đứng bên cạnh bạn đọc để giải thích thơ của mình. Thế đấy! Rất có thể cái phần ''mung lung, sương khói'' mà bạn nói đến ấy là tôi “dành cho mùa thu...”. Tức là dành cho sự tiếp tục tìm hiểu và khám phá, với tư cách là đồng tác giả của chính bạn.
- Xin hỏi ông câu cuối cùng, sắp tới ông sẽ viết gì?
+ Bây giờ tôi không thích làm thơ bài. Nếu bật được một kênh khác thì tôi sẽ làm tập thơ tiếp. Nhưng trước mắt tôi sẽ hoàn thành cuốn tiểu thuyết Cõi người mà tôi đã viết đi viết lại từ nhiều năm nay (tôi đã có 3 tập văn xuôi, có tập đã tái bản đến 4 lần). Sau đó, nhờ giời, nếu sức khoẻ còn tốt, tôi sẽ viết một tập sách Hồi ký văn học ghi lại những vui buồn trong cả đời cầm bút...
- Xin cảm ơn ông. Và nhân dịp năm mới, chúc nhà thơ hoàn thành được ý nguyện của mình!