Xã đảo Thắng Lợi: Mùa mưa khổ vì nước bị ô nhiễm, mùa khô bức xúc vì thiếu nước ngọt

Nếu so với các xã của huyện đảo Vân Đồn, có lẽ Thắng Lợi là một trong những xã gặp nhiều khó khăn hơn về điều kiệViEtDeVtRiCkn để phát triển kinh tế. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo ở xã Thắng Lợi vẫn chiếm tới 37, 3%.

Đồng chí Nguyễn Văn Bính, Phó Chủ tịch HĐND xã, cho biết: Thắng Lợi có 310 hộ dân với 1.500 khẩu, cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Vì điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, hầu hết các hộ dân đều không có tiền để đầu tư mua sắm các trang thiết bị, ngư cụ phục vụ đánh bắt xa bờ. Hiện tại, cả xã có 176 phương tiện tàu thuyền, có công suất từ 6 - 90 CV, trong đó chỉ có 5 tàu đủ điều kiện đánh bắt tuyến khơi, số còn lại chỉ có thể đánh bắt gần bờ. Những năm gần đây, do khai thác nhiều, nguồn hải sản ven bờ cũng dần cạn kiệt; vì thế, đời sống của ngư dân đã khó càng khó hơn. Cũng từ đó, nhiều hộ dân đã quay lại với nghề nuôi trồng thuỷ sản vốn đã có mặt ở xã đảo này cách đây khoảng 10 năm. Và từ năm 2002 trở lại đây, nhiều hộ dân đã đưa vào nuôi trồng một số loại cá có giá trị kinh tế cao như cá song, cá hồng, cá giò... bước đầu đã đem lại hiệu quả. Đến nay, toàn xã có 80 bè và 500 ô lồng nuôi cá. Nếu như năm 2006, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng hải sản các loại ở địa phương đạt 750 tấn thì 6 tháng đầu năm nay đã đạt 450 tấn, bằng 60% kế hoạch năm và tăng 100 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư nuôi các loại nhuyễn thể như ốc, hầu v.v. Đầu năm nay, có khoảng chục hộ gia đình đã đưa khoảng 5 vạn con giống tù hài vào nuôi trồng tại xã. Đây là một loại nhuyễn thể có giá trị kinh tế, nếu phát triển tốt sẽ đem lại thu nhập cao cho người dân.

Xã đảo Thắng Lợi: Mùa mưa khổ vì nước bị ô nhiễm, mùa khô bức xúc vì thiếu nước ngọt ảnh 1
Công trình cấp nước sinh hoạt trị giá 700 triệu đồng đầu tư cho xã đảo Thắng Lợi đang được thi công liệu có giải quyết được tình trạng khan hiếm nước cho người dân?

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Nguyễn Văn Bính cho biết thêm, có thể khẳng định rằng mấy năm trở lại đây kinh tế xã đảo Thắng Lợi đã có nhiều bước chuyển biến tích cực. Mặc dù, xã chưa có chợ nhưng hàng ngày với 4 chuyến tàu ra đảo, việc đi lại cũng như vận chuyển hàng hoá từ đất liền ra đảo và ngược lại đã thuận tiện, dễ dàng hơn. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất đối với người dân xã đảo Thắng Lợi hiện nay là sự khan hiếm nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt, sản xuất. Nước ngọt ở đây chỉ đủ cung cấp cho người dân trong những tháng mùa mưa, còn về mùa khô, nước ngọt thiếu trầm trọng. Hầu hết gia đình nào cũng có giếng nhưng về mùa khô các giếng nước đều cạn kiệt hoặc nhiễm mặn. Có thời điểm bà con phải mua đến 25.000 đồng/m3 nước ngọt để sinh hoạt. Bà Phạm Thị Gái, thôn 1, xã Thắng Lợi, nói: Vì chưa có điều kiện xây bể dự trữ nước nên những tháng mùa khô nước ngọt để phục vụ sinh hoạt đối với gia đình bà rất khó khăn. Các giếng đều cạn kiệt, gia đình bà phải dùng đường ống dẫn nước từ trên khe núi xuống, nhưng mấy năm gần đây, có lẽ do rừng tự nhiên bị tàn phá, các khe suối cũng dần khô cạn. Bà kể, có hôm cả đêm mới hứng được một thùng nước để ăn...

Việc thiếu nước ngọt sinh hoạt về mùa khô đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân. Được biết, năm 2003 đã có 1 dự án xây dựng hồ chứa nước ngọt thử nghiệm với dung tích 380m3 từ nguồn vốn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được thực hiện tại xã đảo Thắng Lợi. Nhưng hồ chưa được bàn giao, người dân chưa được sử dụng nguồn nước ngày nào thì công trình đã bị hỏng, chủ dự án cũng bỏ đi. Công trình đó, giờ bỏ hoang, cỏ mọc che kín người...

Trước tình trạng thiếu nước sinh hoạt của người dân, cuối năm 2005, bằng nguồn kinh phí 500 triệu đồng từ Chương trình cải tạo Bãi Ngang, xã Thắng Lợi đã được đầu tư xây dựng một hệ thống cấp nước sinh hoạt tại thôn 4. Hệ thống cấp nước này bao gồm một giếng thu nước có dung tích 140m3, trạm bơm, bể lọc chứa nước sạch và đường ống dẫn nước. Theo như mục tiêu của dự án, công trình này sẽ cấp nước sinh hoạt cho 750 người dân thôn 3, thôn 4 và một phần thôn 5 với công suất cấp nước 75 m3/ngày. Đầu tháng 1 năm 2006, công trình đã hoàn thành và đi vào sử dụng trong niềm vui của bà con xã đảo. Tuy nhiên, khi hệ thống cấp nước sạch này đi vào hoạt động lại không đáp ứng được nhu cầu mong muốn nước sạch của người dân. Theo chính quyền địa phương cho biết, về mùa khô nhu cầu về nước sinh hoạt cho người dân là rất lớn nhưng cả ngày và đêm giếng thu nước chỉ có khoảng 10 m3 nước, trong khi đó lại còn phải qua quy trình bơm nước lên bể lọc rồi mới xả xuống hệ thống đường ống dẫn. Thêm nữa, tiền mua dầu chạy máy phát điện để bơm nước rất tốn, cứ bơm 2m3 nước, phải chi phí từ 18 - 20 nghìn đồng tiền mua dầu. Như vậy, lượng nước vừa không đủ, tiền chi phí bơm nước lại cao, công trình cung cấp nước sinh hoạt này thực tế đã không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Dịp này đang là mùa mưa nên khi chúng tôi đi xem hệ thống cung cấp nước sạch này, các bể thu nước đều ngập tràn... Nhưng như người dân cho biết, điều đó chẳng có ích lợi gì vì về mùa này, nhà nào cũng có nước ngọt để sinh hoạt rồi nên không phải dùng đến nguồn nước này. Vấn đề là nước ngọt cung cấp vào mùa khô cơ! Được biết, tháng 7 vừa qua, một công trình cấp nước sinh hoạt cho người dân đã được khởi công xây dựng. Công trình này được đầu tư 700 triệu đồng, cũng từ nguồn vốn Chương trình cải tạo Bãi Ngang năm 2007. Theo kỹ sư phụ trách kỹ thuật Nguyễn Văn Trung, thuộc Công ty TNHH Xây dựng Hải Hà - Hà Nội (đơn vị thi công) thì Công ty sẽ hoàn thiện công trình vào cuối năm nay. Khi công trình này đi vào sử dụng, liệu có khắc phục được tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho bà con xã đảo trong mùa khô không? Điều đó còn phải chờ!

Thêm một vấn đề khó khăn nữa, là tình trạng ô nhiễm môi trường nước làm ảnh hưởng tới hoạt động nuôi cá lồng bè của người dân trên đảo. Theo bà con cho biết, khoảng 3, 4 năm trở lại đây, từ khi Công ty Cảng và Kinh doanh than cho thả 2 phao xuống biển để làm bến neo đậu của sà lan chờ chuyển tải than tại khu vực xã đảo Thắng Lợi, mỗi ngày có hàng trăm chiếc sà lan chở than có trọng tải lớn hoạt động trong khu vực. Nhất là vào những tháng mùa mưa, nước than trôi từ sà lan xuống làm ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng rất lớn đến việc nuôi cá lồng bè của người dân. Thực tế đã có một số hộ nuôi cá lồng bè trong xã bị thiệt hại rất nặng do việc ô nhiễm từ nguồn nước. Thiết nghĩ, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năngcần sớm kiểm tra và có giải pháp bảo vệ môi trường cho khu nuôi trồng thuỷ sản để người dân yên tâm sản xuất.

Cùng chuyên mục