Xác định độ chứa khí mê-tan để chủ động phòng ngừa

Từ nhiều năm nay, tình trạng nổ khí mê-tan trong các lò khai thác than ở vùng mỏ Quảng Ninh diễn ra khá thường xuyên. Song đặc biệt sau vụ nổ khí tại khu Yên Ngựa (Công ty Than Thống Nhất) vào năm 2006 thì việc đo xác định độ chứa khí mê-tan mới trở thành nhiệm vụ cấp bách. TKV đã ban hành quyết định về quy trình lấy mẫu để phân tích, xác định độ chứa khí và chỉ thị bắt buộc các đơn vị sản xuất hầm lò thực hiện nghiêm chỉnh công tác đo đạc lấy mẫu khí mê-tan.

Công nhân chuyên xác định độ chứa khí trong hầm lò của XN Than Thành Công (Công ty Than Hạ Long) được trang bị đầy đủ các thiết bị chuyên môn.

 Công nhân chuyên xác định độ chứa khí trong hầm lò của XN Than Thành Công (Công ty Than Hạ Long) được trang bị đầy đủ các thiết bị chuyên môn.

Hàng năm, Trung tâm An toàn mỏ tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo về phòng chống cháy nổ khí cho CBCN ở tất cả các mỏ hầm lò để nâng cao nhận thức về hiểm hoạ khí mê-tan. Qua đó, Trung tâm đã thực hiện khảo sát, đánh giá độ chứa khí mê-tan và đề xuất các giải pháp phòng chống hiểm hoạ tại hầu hết các mỏ hầm lò. Trung tâm đã thiết kế, lắp đặt hàng loạt hệ thống quan trắc khí tự động cho các đơn vị có nguy cơ cháy nổ trong hầm lò.

Mặc dù có nhiều nỗ lực song hiểm họa nổ khí mê-tan là rất khó lường. Vì vậy, việc xác định độ chứa khí mê-tan ở các vỉa than hầm lò ở Quảng Ninh đang được làm rõ, đưa ra những kết quả xác thực để chủ động phòng ngừa. Nhìn chung khí mê-tan phân bố không đồng đều trong các khoáng sàng than. ở vùng mỏ Quảng Ninh phương pháp xác định độ chứa khí mê-tan là lấy mẫu trong lỗ khoan trực tiếp, sau đó đưa mẫu phoi than vào máy sắc ký khí để cho ra những thông số chính xác. Đến nay, kết quả cho thấy một số vỉa than hầm lò có độ chứa khí mê-tan cao trong vỉa là Khe Chàm vỉa 13-1 lò hạ, mức -200 có độ chứa khí (m3/T (khối cháy) là 6.29063m3/Tkc; mỏ than Quang Hanh tại vỉa V6 dọc vỉa than ở -50 là 6.09800m3/Tkc; mỏ Đồng Vông vỉa 1C mức +35 là 8.58500m3/Tkc; khu Yên Ngựa Thống Nhất vỉa 13-1 lò Thượng mức -3 là 6.09400m3/Tkc; mỏ Dương Huy vỉa 7 lò Thượng mức +60 là 4.90769m3/Tkc; lò vỉa 7 của Công ty 35 dọc vỉa mức -50 là 8.37348m3/Tkc; đặc biệt ở mỏ Mạo Khê cùng ở mức -80 song có độ chênh khí mê-tan khá lớn ở 2 vỉa, đó là vỉa 6 ở vị trí dọc vỉa than là 0.67198m3/Tkc và vỉa 9 dọc vỉa than là 6.2800m3/Tkc.

Qua kết quả đo đạc, các mỏ hầm lò còn lại bao gồm Mông Dương, Khe Tam, Cẩm Thành, Hồng Thái, Nam Mẫu, Giáp Khẩu, Cao Thắng, Vàng Danh, Hoành Bồ, Thành Công, Hà Ráng, Hà Lầm nhìn chung độ chứa khí mê-tan thấp dưới 2m3/T khối cháy. ở Quảng Ninh độ chứa khí có xu hướng tăng lên theo chiều sâu của vỉa than. Độ chứa khí mỏ  có biến động rất lớn theo các vùng khác nhau, đặc biệt có 3 vùng mà độ chứa khí rất cao là khu vực Mạo Khê, tập chung chủ yếu ở các vỉa 6, 7, 8, 9 cánh Bắc độ chứa khí cao đến 6.2800m3/Tkc. Khu Ngã Hai bao gồm một số vỉa của các mỏ Quang Hanh, khu Yên Ngựa Thống Nhất, một số vỉa của Dương Huy và Công ty 35, có độ chứa khí cao nhất lên tới 8.37m3/Tkc. Khu Khe Chàm một số vỉa độ chứa khí lên đến 6.29m3/Tkc. Qua kết quả xác định độ chứa khí mỏ  có thể rút ra kết luận: Độ chứa khí mỏ  trong các mỏ vùng Quảng Ninh biến động rất mạnh theo vùng, trong mỗi vỉa than độ chứa khí cũng biến động rất mạnh theo mặt ngang. Từ thực tế đó, cần liên tục khảo sát để cập nhật xác định độ chứa khí trong quá trình khai thác để định vị các khu vực có độ chứa khí cao nhằm đưa ra các biện pháp và kỹ thuật công nghệ phù hợp với kế hoạch phòng chống cháy nổ khí.