Xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã: Các địa phương chưa tích cực vào cuộc

Một trong những nội dung quan trọng để Quảng Ninh  thực hiện thành công Chỉ thị 06-CT/T.Ư của Ban Bí thư T.Ư Đảng về củng cố hoàn thiện màng lưới y tế cơ sở, chính là việc đẩy mạnh phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Tuy nhiên, ở một số địa phương công việc hiện tiến triển rất chậm...

t

Bác sĩ trẻ tình nguyện của Trung tâm Y tế Hoành Bồ khám bệnh nhân đạo cho nhân xã Kỳ Thượng, xã được Bộ Y tế công nhận chuẩn Quốc gia về y tế xã năm 2006.


Theo Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 7-2-2002 của Bộ Y tế, mô hình chuẩn quốc gia về y tế xã gồm 10 nội dung: Xã hội hoá công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và giáo dục truyền thông; vệ sinh phòng bệnh; khám chữa bệnh và phục hồi chức năng; y học cổ truyền; chăm sóc sức khoẻ trẻ em; chăm sóc sức khoẻ sinh sản; cơ sở hạ tầng; nhân lực và chế độ chính sách; kế hoạch và tài chính cho trạm y tế; thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Đây cũng  là biện pháp nhằm  nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân. Trước năm 2003, có 90% số trạm không đạt chuẩn về cơ sở hạ tầng, số cán bộ y tế hiểu biết về y học cổ truyền còn hiếm hoi, việc quản lý, chăm sóc người tàn tật nhiều nơi chưa hiệu quả. Lúc bấy giờ, toàn tỉnh còn tới 60% số xã chưa đạt chuẩn về sử dụng nước sạch, hố xí sạch, rác thải... nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tính đến  hết năm 2002, chỉ có 30,6%  số xã, phường có bác sỹ; 56/183 trạm (hiện là 186 trạm) được trang bị bộ dụng cụ khám chuyên khoa.... Tháng 4-2003, Quảng Ninh chính thức triển khai chương trình xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã với sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh. Việc triển khai lộ trình phấn đấu đạt chuẩn đã góp phần tạo sự biến đổi lớn đối với y tế tuyến xã.  Chính quyền các cấp cũng quan tâm hơn đến công tác này. Bởi vậy mà hoạt động y tế tuyến xã có nhiều khởi sắc. 100% xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ được coi trọng. Công tác phòng chống dịch và triển khai các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được làm tốt. Trước năm 2003, hầu hết các xã chưa xây dựng được vườn thuốc nam thì nay có hơn 65% số trạm có vườn thuốc nam, theo đúng tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Một số huyện, thị xã, như: Đông Triều, Uông Bí, Vân Đồn, Cẩm Phả đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho trạm y tế xã. Đến năm 2005, 100% trạm y tế đã có bác sỹ, kể cả tăng cường... Từ việc đẩy mạnh hoạt động trong việc  củng cố mạng lưới y tế cơ sở đã giúp người dân tin tưởng hơn đến khám bệnh tại các trạm y tế xã, giảm bớt tình trạng bệnh nhân vượt thẳng lên tuyến tỉnh, tuyến Trung ương. Năm 2002 toàn tỉnh có  gần 791.000 lượt người đến khám bệnh tại tuyến y tế cơ sở, năm 2006 là hơn 1,2 triệu lượt người. Hiện Quảng Ninh đã có 81 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. 

Tuy nhiên, để đến năm 2010 có 75% số xã, phường trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia về y tế theo đúng tinh thần Nghị quyết số 38, ngày 9-12-2005 của HĐND tỉnh và Quyết định số 1037, ngày 13-4-2006 của UBND tỉnh “Về phê duyệt quy hoạch phát triển sự nghiệp y tế đến năm 2010 và định hướng 2020”, cũng còn không ít khó khăn. Theo phản ánh của các đơn vị thì khó khăn nhất trong việc phấn đấu chuẩn quốc gia về y tế  xã là cơ sở hạ tầng và bác sĩ cho tuyến xã. Việc xây dựng trạm y tế tuyến xã thuộc trách nhiệm của UBND các huyện, thị. Trước đây, do chưa có quy định cụ thể, nên quy mô trạm thường phụ thuộc vào nguồn kinh phí sẵn có, được trích từ ngân sách của địa phương, vốn 135... hoặc do các đơn vị, doanh nghiệp hỗ trợ. Do đó, nhiều trạm chỉ được xây từ 3-5 phòng chức năng, các công trình phụ trợ không có. Nhiều địa phương trông chờ, ỷ lại cho ngành Y tế. Sở Y tế cũng đã tích cực chủ động khai thác nguồn vốn (vốn đối ứng dự án y tế nông thôn, nguồn vốn phát triển văn hoá xã hội vốn dự án quân dân y...)  xây dựng bổ sung cho 10 trạm y tế theo đúng chuẩn đặt ra, nhưng còn quá ít so với nhu cầu hiện nay. Đến thời điểm này, chưa đầy 40% số xã có bác sĩ định biên. Để khắc phục khó khăn, năm 2006, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2015. Theo đó, đến năm 2010, 100% số trạm y tế có bác sĩ định biên tại xã; 75% số trạm y tế xã đạt chuẩn về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị. Để làm được điều này, UBND tỉnh đã hỗ trợ kinh phí để các xã đào tạo bác sĩ theo hệ chuyên tu; đồng thời với các xã, phường, thị trấn (trừ thị trấn miền núi) tỉnh hỗ trợ 30% tổng kinh phí để xây dựng trạm, với các xã, phường, thị trấn đồng bằng trung du, xã thuộc thị xã, thành phố, tỉnh hỗ trợ 40%, với các xã, thị trấn miền núi, biên giới, hải đảo, tỉnh hỗ trợ 80% kinh phí.

Mặc dù vậy, nhiều địa phương vẫn thờ ơ với Đề án xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã. Sở Y tế đã có văn bản đề nghị các địa phương xây dựng đề án để Sở tập hợp trình UBND tỉnh bố trí ngân sách cho việc xây dựng các trạm y tế nhằm đảm bảo mỗi năm có 20-30 trạm được xây mới. Theo đồng chí Phạm Trọng Hiệu, Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp, Sở Y tế: “Các địa phương  đã đăng ký danh sách 27 trạm xã cần xây mới, nâng cấp, song chưa đơn vị nào xây dựng đề án chi tiết  được phê duyệt. Vì vậy, kinh phí đầu tư xây dựng trạm xá năm 2007 không được tỉnh cấp đồng nào”. Sự chậm trễ của các địa phương chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến tiến độ phấn đấu xây dựng trạm chuẩn, và trong năm nay sẽ không hoàn thành chỉ tiêu có từ 20-30 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Việc bố trí cho cán bộ y tế xã đi học bác sĩ chuyên tu theo địa chỉ vốn đã khó khăn (do thiếu nguồn nhân lực), lớp học khoá 2007-2012 dự kiến cử 60 người, song Sở Y tế thúc giục mãi, các địa phương mới cử được 42 người theo học. Để đảm bảo lộ trình phấn đấu 75% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã vào năm 2010 và 100% đạt chuẩn vào năm 2015 thì các địa phương cần vào cuộc tích cực hơn là rất cần thiết.

Cùng chuyên mục