Cô Tô là huyện đảo có vị trí địa lý đặc biệt, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, du lịch, giao lưu kinh tế quốc tế. Quần đảo Cô Tô có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh.
Thực hiện quy hoạch của UBND tỉnh các năm 2000, 2008 về phát triển KT-XH huyện đảo, đến nay Cô Tô có sự đổi thay nhanh chóng, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2005 là 11,5%, năm 2010 đạt 14%; thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là 450 USD, năm 2010 đạt 820 USD. Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc vịnh Bắc Bộ được khởi công xây dựng năm 2008, tổng giá trị đầu tư gần 470 tỷ đồng sẽ hoàn thành vào năm 2012, đặt nền tảng cho ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần tại huyện đảo, đáp ứng mơ ước bao đời nay của ngư dân về nơi tránh, trú bão an toàn.
Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc vịnh Bắc bộ đang được xây dựng trên huyện đảo Cô Tô.
Ảnh: Ngọc Hà
Theo đề nghị của UBND tỉnh, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ KH&ĐT chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan chỉ đạo, hướng dẫn tỉnh lập Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng biển đảo Cô Tô đến năm 2020. Ngày 5-4-2011, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT đã ký Quyết định số 457 phê duyệt quy hoạch nói trên. Đây là bản quy hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của huyện đảo. Cô Tô là một trong số ít các địa phương cấp huyện trong cả nước được Chính phủ uỷ quyền cho Bộ KH&ĐT phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH. Quy hoạch này không chỉ đề cập đến sự phát triển KT-XH của huyện mà là quy hoạch của cả vùng biển đảo Cô Tô.
Quy hoạch xác định mục tiêu chung: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững vùng biển đảo Cô Tô để sớm thoát khỏi tình trạng khó khăn, chậm phát triển hiện nay. Tiến tới xây dựng Cô Tô thành một vùng đảo có kinh tế năng động, một trọng điểm phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế biển đảo của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và chiến lược biển cả nước nói chung. Đồng thời là căn cứ vững chắc để bảo vệ quốc phòng - an ninh và chủ quyền quốc gia vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Trong đó, giai đoạn đầu chủ yếu phát triển thuỷ sản, sau chuyển dần sang du lịch - dịch vụ, nhất là dịch vụ biển và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Về phát triển kinh tế, Quy hoạch xác định, Cô Tô đạt tốc độ tăng bình quân từ nay đến năm 2020 là 17-18%/năm, trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt 20%/năm. Đến năm 2015 cơ bản hoàn thành các công trình hạ tầng thiết yếu trên vùng đảo như: Cấp điện, cấp nước ngọt, bến cảng, tuyến giao thông, trường học, bệnh viện, hạ tầng thông tin truyền thông. Tập trung phát triển các ngành kinh tế biển chủ lực, có lợi: Phát triển toàn diện và hiện đại hoá ngành thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn; phát triển nhanh ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và đảm bảo tính bền vững, xây dựng Cô Tô thành khu du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng biển đảo cấp quốc gia; phát triển mạnh và đa dạng các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại. Tập trung phát triển các đội tàu cao tốc chất lượng cao vận tải hành khách để rút ngắn khoảng cách giữa đảo với đất liền, nâng cấp mở rộng cảng Cô Tô để có thể tiếp nhận tàu trên 5.000 tấn, đầu tư khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá với quy mô 600 tàu, công suất 600CV. Đầu tư xây dựng một sân bay trực thăng tại trung tâm đảo Cô Tô; xây dựng hoàn chỉnh các tuyến đường xuyên đảo, đường nhánh trên đảo. Xây dựng nhà máy điện đốt than công suất 5-6MW; về lâu dài, triển khai xây dựng tuyến cáp ngầm đưa điện lưới quốc gia ra Cô Tô; nghiên cứu xây dựng cụm năng lượng gió tại vịnh Hồng Vàn. Triển khai xây dựng nhanh hồ chứa Trường Xuân quy mô 700.000m3; xây dựng nhà máy nước tại thị trấn Cô Tô, công suất 500-600m3/ngày, sau nâng lên 1.000-1.200m3/ngày; xây dựng thêm một số hồ chứa nước trên đảo Cô Tô, Thanh Lân, đảo Trần.
Quy hoạch cũng xác định danh mục 31 chương trình, dự án, trong đó có 15 dự án phát triển cơ sở hạ tầng. Nhu cầu vốn đầu tư của vùng biển đảo Cô Tô cho cả thời kỳ 2011-2020 khoảng 2.230 tỷ đồng (giá hiện hành), trong đó giai đoạn 2011-2015 khoảng 1.050 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 là 1.480 tỷ đồng; vốn ngân sách tập trung chủ yếu cho phát triển kết cấu hạ tầng. Về chính sách đãi: Ưu tiên bố trí vốn chương trình Biển Đông - Hải đảo, nguồn vốn ODA, trái phiếu Chính phủ, tín dụng ưu đãi của Chính phủ và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu khác. Áp dụng cho các doanh nghiệp đầu tư vào Cô Tô các chính sách ưu đãi nhất cho các đảo và khu kinh tế ở Việt Nam, kể cả chính sách đối với các khu chế xuất, khu kinh tế mở, khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu, chính sách ưu đãi như các dự án du lịch.
Quy hoạch được phê duyệt là cơ hội để Cô Tô phát triển mạnh. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Quy hoạch này chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết. Cấp uỷ, chính quyền huyện Cô Tô xác định phải tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thực hiện quy hoạch, trước mắt sẽ thực hiện tốt một số nội dung công việc sau: Công khai và tuyên truyền về Quy hoạch để cán bộ, đảng viên, chiến sĩ LLVT và mọi người dân được biết, tham gia. Phối hợp xây dựng, đề nghị phê duyệt, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch về sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế, khu bảo tồn biển, đặc biệt là quy hoạch chung xây dựng huyện Cô Tô. Tuyên truyền quảng bá, thu hút đầu tư để thực hiện quy hoạch. Xây dựng các kế hoạch dài, trung và ngắn hạn, các chương trình, dự án; nghiên cứu, đề xuất ban hành các cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực thực hiện. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ của huyện, đặc biệt là cán bộ các phòng, ban chuyên môn, các cơ quan trực tiếp tham mưu và triển khai thực hiện quy hoạch.