Xứng đáng là địa bàn động lực, năng động

Với vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội Quảng Ninh đã được Chính phủ xác định cùng với Thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng là một trong 3 cực phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát huy lợi thế này, trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn nỗ lực, cố gắng thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, xứng đáng là địa bàn động lực và năng động của khu vực phía Bắc.

Tiềm năng đang được phát huy

So với nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước thì Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó một số lĩnh vực có vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Bắc và cả nước như khai thác than, vật liệu xây dựng, điện, du lịch, kinh tế cảng biển, kinh tế cửa khẩu... Với vị trí cửa mở ra biển và có hệ thống giao thông gồm cả đường bộ, đường sắt, đường biển, cảng biển, có cửa khẩu quốc gia, quốc tế thông thương với Trung Quốc. Dân số tuy không đông nhưng trình độ văn hoá tương đối cao, khoảng 95% dân số biết đọc, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35,3%. Khơi gợi và phát huy tiềm năng này trong những năm qua nhất là sau hơn 20 năm đổi mới (từ năm 1986 đến nay) kinh tế của tỉnh luôn duy trì được mức tăng trưởng khá, đồng đều và tương đối bền vững. Đặc biệt giai đoạn từ năm 2001-2006 trong bối cảnh những khó khăn, thuận lợi và thách thức đan xen nhau nhưng nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn duy trì ở mức trên 12% qua các năm và xấp xỉ đạt mức cao của kế hoạch. Riêng năm 2006, quy mô GDP toàn tỉnh tăng gấp hơn 3 lần so với năm 1996, thuộc nhóm cao so với các địa phương trong cả nước và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Sau hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (2006-2010), kinh tế tiếp tục duy trì ở mức tăng trưởng khá cao (gấp 1,5 lần so với bình quân chung của cả nước) thuộc nhóm cao so với các địa phương và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tỷ trọng của các ngành kinh tế trong GDP tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tích cực và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhìn chung về cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua có thể thấy được sự chuyển dịch tích cực và đúng hướng. Sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo hướng gắn sản xuất với thị trường, tăng dần tỷ trọng cơ khí và vật liệu xây dựng trong giá trị sản xuất toàn ngành. Với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã làm cho sản xuất công nghiệp mang tính đa dạng cả về quy mô sản xuất, trình độ công nghệ, chủng loại và chất lượng sản phẩm. Tính riêng trong 2 năm (2006-2008) tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 45.173 tỷ đồng, tăng bình quân 18,2%/năm. Các ngành công nghiệp mũi nhọn được quan tâm đầu tư, áp dụng công nghệ hiện đại như đóng mới sửa chữa tàu thuỷ, sản xuất điện chạy than, xi măng, cơ khí chế tạo... bước đầu đem lại hiệu quả rõ rệt. Cùng với đó là sự ra đời của hàng loạt dự án trọng điểm như: Nhiệt điện Uông Bí mở rộng giai đoạn I 300 MW, điện Quảng Ninh 1.200 MW, điện Cẩm Phả 600 MW; nhà máy xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long, Lam Thạch có tổng công suất trên 7 triệu tấn/năm; Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ công suất 20.000 tấn sản phẩm/năm; Nhà máy luyện thép Đông á công suất 500.000 tấn phôi/năm; khu công nghiệp đóng tàu Cái Lân, Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà; cụm công nghiệp đóng tàu Yên Hưng và một số dự án điện Uông Bí giai đoạn 2, Mạo Khê, Mông Dương, Thăng Long đang được xúc tiến thực hiện. Với tốc độ phát triển như hiện nay chắc chắn trong tương lai không xa Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm sản xuất nhiệt điện, xi măng, đóng tàu lớn nhất cả nước và mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp nhanh chóng hoàn thành.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tập trung vào việc nâng cao chất lượng phát triển và sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá ngành nghề, tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông. Tỷ trọng nông nghiệp trong giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã giảm từ 71,3% năm 2000 xuống còn 62% vào năm 2006. Đối với sản xuất lương thực hướng chuyển dịch chính là tăng diện tích gieo trồng bằng giống thuần, giống lai năng suất cao và ổn định; bố trí mùa vụ phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng nhằm hạn chế tác động của thời tiết và giải phóng đất sớm để sản xuất. Đến nay hầu hết các địa phương đã loại bỏ giống lúa cũ, đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.

Xứng đáng là địa bàn động lực, năng động ảnh 1
Hạ thuỷ tàu 53.000 tấn tại Công ty đóng tàu Hạ Long (Vinashin).
                                                          Ảnh: Đỗ Khánh

Mục tiêu cụ thể trong tầm nhìn xa

Một trong những điểm quan trọng trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đó là phải có quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch. ở Quảng Ninh do nhiều yếu tố tác động đến quá trình phát triển, tầm nhìn và vị thế của Quảng Ninh trong tổng thể Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày càng xuất hiện nhiều yếu tố mới, mang tầm lớn hơn; sự phát triển của từng vùng lãnh thổ huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh ngày càng năng động với tốc độ cao. Vì vậy năm 2005, UBND tỉnh xây dựng “Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020” trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Với mục tiêu, đẩy mạnh CNH-HĐH và đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng, trên cơ sở xem xét nguồn nội lực và ngoại lực có thể huy động trong 10 năm tới, kết quả xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội những năm qua, từ đó xác định các mục tiêu phát triển và định hướng quy hoạch các ngành và lĩnh vực, bố trí lãnh thổ, kiến nghị các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư phát triển đến năm 2020.

Nếu như trong Quy hoạch năm 1996, mục tiêu phát triển các ngành, lĩnh vực cụ thể còn sơ sài, chưa nghiên cứu đánh giá đề cập đến tác động của hội nhập kinh tế toàn cầu, đến tốc độ phát triển của từng ngành để có định hướng, bước đi phù hợp thì khi xây dựng Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch năm 2005 các chuyên gia đã đặc biệt quan tâm so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của Quảng Ninh, xu hướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu, từ đó đưa ra những phân tích định hướng tương đối đầy đủ, khách quan. Theo đó, phát triển mạnh ngành công nghiệp vốn là lợi thế của tỉnh như cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô, đóng tàu thuỷ phục vụ cho các ngành kinh tế, than, điện, xi măng, thuỷ sản và hàng tiêu dùng. Đầu tư chiều sâu, cải tạo, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao năng lực đóng mới các tàu có trọng tải 5 vạn tấn và tàu vận chuyển Container. Mở rộng sản xuất nhà máy cán thép, phục vụ cho nhà máy đóng tàu và cơ sở đóng tàu thuyền nhỏ. Về du lịch vẫn xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, ngoài các trung tâm du lịch Hạ Long, Móng Cái sẽ xây dựng Khu Kinh tế Vân Đồn với chức năng chủ yếu là khu du lịch sinh thái chất lượng cao gắn với nuôi trồng chế biến hải sản sạch và coi đây là cửa tiến ra biển của cả miền Bắc. Về hạ tầng giao thông trong tương lai Quảng Ninh sẽ có một sân bay tầm cỡ quốc tế tại huyện Vân Đồn, điều mà trong các quy hoạch trước đây chưa bao giờ đề cập đến. Đây sẽ là một ưu điểm lớn thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Quảng Ninh. Đồng thời bổ sung đầu tư xây dựng một số cảng nước sâu ở Hải Hà, Hạ Long, Cẩm Phả, Yên Hưng. Đối với giao thông đường bộ sẽ xây dựng mới tuyến đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái. Cùng với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng xây dựng đường giao thông ven biển từ Quảng Ninh - Hải Phòng đến Thanh Hoá tạo mối liên kết giao thông thông thương giữa vùng Đông Bắc với khu vực miền Trung. Xây dựng mới tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại nối vào ga Cổ Thành trên tuyến Kép - Cái Lân và nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt Hạ Long - Móng Cái và tuyến nối cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn. Đây sẽ là cầu nối giao thông quan trọng giữa Quảng Ninh với khu vực kinh tế ASEAN và Trung Quốc. Về phát triển không gian kinh tế đã xác định rõ: Móng Cái được đầu tư nâng cấp lên thành phố cửa khẩu quốc tế quan trọng trong vành đai kinh tế ven biển Quảng Tây - Móng Cái - Hạ Long - Đồ Sơn, đáp ứng nhu cầu là đầu mối trong quan hệ kinh tế đối ngoại và xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Đẩy mạnh khai thác các tiểu vùng kinh tế phía Tây, phía Đông và hướng tới lấy Khu kinh tế Vân Đồn làm trung tâm phát triển có sức thu hút, lan toả đối với các tiểu vùng kinh tế của cả tỉnh. Trong vài năm gần đây tỉnh đang tiếp tục điều chỉnh một số quy hoạch ngành, lĩnh vực cho phù hợp với xu thế phát triển chung.

Để xứng đáng là địa bàn động lực và năng động của khu vực phía Bắc, Đảng bộ, chính quyền nhân dân các dân tộc trong tỉnh đang nỗ lực, cố gắng tiếp tục tạo sức bứt phá mạnh mẽ hơn nữa trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Bảng vàng truyền thống

1. Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tặng Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Ninh (năm 1978).

2. Huân chương Sao Vàng tặng cho nhân dân các dân tộc, cán bộ, chiến sĩ tỉnh Quảng Ninh (năm 1985).

3. Huân chương Hồ Chí Minh tặng cho Lực lượng vũ trang Đặc khu Quảng Ninh (năm 1979).

4. Huân chương Hồ Chí Minh tặng cán bộ và chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Ninh (năm 1985, 2005).

5. Từ năm 1963 đến nay tỉnh, các sở, ban, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh được Nhà nước tặng thưởng huân chương các loại:

- 27 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba

- 21 Huân chương Lao động hạng Nhất

- 125 Huân chương Lao động hạng Nhì

- 179 Huân chương Lao động hạng Ba

- 681 Huân chương Quân công, Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba

- 54 tập thể và 26 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Từ năm 1990 đến 2008, Nhà nước phong tặng và truy tặng 126 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

- Có 1 Nhà giáo Nhân dân; 67 Nhà giáo Ưu tú; 2 Thầy thuốc Nhân dân; 46 Thầy thuốc Ưu tú; 2 Nghệ sĩ Nhân dân; 15 Nghệ sĩ Ưu tú.

Nguồn: Ban TĐ-KT tỉnh

Cùng chuyên mục