Nhà máy X48 Hải quân thuộc Cục kỹ thuật (Quân chủng Hải quân) được thành lập ngày 18-1-1965, tiền thân là Trạm sửa chữa tàu Bãi Cháy, Khu tuần phòng 1 Hải quân, có nhiệm vụ chính là cải tiến, sản xuất vũ khí đặc chủng cho Đoàn M56 Đặc công, sửa chữa tàu và phương tiện rà phá thuỷ lôi, loại súng pháo, khí tài cho các đơn vị hải quân.
Ra đời trong bối cảnh miền Bắc nước ta đang phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ với phương tiện, vũ khí tối tân hiện đại, vì thế việc xây dựng và phát triển Nhà máy gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt. Khi mới thành lập, cơ sở hạ tầng của đơn vị hầu như chưa có gì, do đó nhiệm vụ đặt ra là phải tìm kiếm địa điểm xây dựng các hạng mục công trình, như nhà xưởng, cầu cảng, âu tàu… Trong quá trình thi công, ban ngày công trường của đơn vị thường xuyên bị máy bay Mỹ đến trinh sát, ném bom, bắn phá; ban đêm, CBCS phải ăn nghỉ trong các hang núi, điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt… Tuy khó khăn là vậy, nhưng CBCS của đơn vị đã đoàn kết, vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Lãnh đạo Nhà máy X48 Hải quân và chỉ huy các cơ quan chuyên môn trong đơn vị ký kết thực hiện các mục tiêu của phong trào thi đua quyết thắng năm 2010.
Ngay sau khi thành lập, Nhà máy tổ chức kiện toàn biên chế, phối hợp cùng các đơn vị bạn khoan núi, mở hầm xây dựng hoàn thiện nhà xưởng, khu ăn nghỉ của bộ đội, cải tạo một cảng để tàu vào neo đậu và xây dựng 1 cầu cảng liền bờ dài 120m, cùng các công trình phụ trợ khác, sẵn sàng triển khai nhiệm vụ cấp trên giao. Cùng thời gian này, đế quốc Mỹ tiếp tục điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, trong đó có các đơn vị tầu của Quân chủng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, đảo của ta. Vì thế, Bộ Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Nhà máy trực tiếp sửa máy, vỏ tàu, vũ khí, khí tài hàng hải cho các tàu tuần tra, tàu pháo, tàu vỏ nhôm. Nhờ chuẩn bị tốt nhân lực và thiết bị, đến tháng 9-1966, đơn vị đã sửa chữa, khôi phục sức chiến đấu cho 31 lượt tàu, 76 khẩu pháo và sản xuất hàng trăm sản phẩm cơ khí phục vụ cho nhiệm vụ sửa tàu. Từ giữa năm 1966, Đoàn Đặc công 126 được thành lập đòi hỏi cần có thêm nhiều loại vũ khí, trang bị, Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Nhà máy phối hợp với các cơ quan chức năng khác tập trung nghiên cứu, cải tiến vũ khí chiến đấu cho lực lượng đặc công thủy. Ban Kỹ thuật của đơn vị đã tiếp nhận các bản vẽ kỹ thuật của Phòng Quân giới Hải quân và Viện Kỹ thuật Quân sự Bộ Quốc phòng để từng bước sản xuất ra những sản phẩm chuyên dụng. Trong quá trình nghiên cứu chế tạo vũ khí cho Đoàn 126, đơn vị đã lập được nhiều thành tích quan trọng. Đó là nghiên cứu, sản xuất vỏ mìn rùa (theo mẫu mìn áp mạn BPM-2 của Liên Xô) bằng hợp kim nhôm theo phương pháp thủ công, bảo đảm vừa kín nước vừa không bị rạn, nứt; chế tạo thân vỏ thuỷ lôi HAT-2, ngòi nổ thuỷ lôi APS, thuỷ lôi trạm nổ HCN3, mìn vành khăn và các loại chốt chì hẹn giờ, đảm bảo cung cấp kịp thời về số lượng, chất lượng, chủng loại cho Đoàn 126 đánh chìm nhiều tàu chiến và các phương tiện chiến tranh khác của địch trên chiến trường Quảng Trị.
Bước sang năm 1969, Quân chủng Hải quân tiếp tục giao nhiệm vụ cho Nhà máy đi sâu nghiên cứu, cải tiến và sản xuất các loại vũ khí lớn có uy lực công phá mạnh theo hướng gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu mang vác của bộ đội. Thực hiện nhiệm vụ này, đơn vị đã cải tiến thành công và đưa vào sử dụng hàng loạt loại vũ khí, đáng chú ý là đã cải tạo được thuỷ lôi AM-2 thành HAT-2. Đây là loại thuỷ lôi do Liên Xô sản xuất có khối lượng 800kg, muốn sử dụng được nó phải có tàu vận chuyển hoặc máy bay đưa ra vùng cửa sông, cửa biển thả xuống nước. Cả 2 loại phương tiện này đều không phù hợp với cách đánh của đặc công nước ta lúc bấy giờ, lại càng không phù hợp khi bộ đội ta vận chuyển luồn lách qua vùng địch hậu. Từ thực trạng đó, chỉ huy đơn vị đã mạnh dạn chỉ đạo cải tiến vỏ thuỷ lôi thành 2 phần, giữ nguyên phần đầu nặng 70kg gồm máy móc, thiết bị điện tử và ngòi nổ; phần chứa thuốc nổ, được cải tiến thu ngắn lại, nối với nhau bằng mối ghép cơ khí, thuốc nổ được tháo ra đúc thành những bánh nặng 20kg. Việc làm này tiện lợi ở chỗ, căn cứ vào mục tiêu tấn công, bộ đội có thể lắp tối đa lượng thuốc nổ đến 350kg. Sau khi thử nghiệm thành công trên Vịnh Bái Tử Long, trong năm 1969, đơn vị đã sản xuất được 190 quả thuỷ lôi loại này, giúp cho Đoàn 126 đánh 4 trận ở sông Hiếu, cảng Cửa Việt, diệt 6 tàu chiến của địch. Ghi nhận về sự cải tiến này, Nhà nước đã tặng cho Nhà máy Huân chương Chiến công hạng Ba. Thành công nữa là Nhà máy cải tiến bom phóng HBF-một loại hoả lực chuyên dùng dưới tàu chiến, thành một loại vũ khí gọn, nhẹ, có sức công phá lớn v.v.. Đến bây giờ, CBCS Nhà máy vẫn không quên chuyện lần đầu tiên 2 chiến sỹ cảm tử của đơn vị tháo rời quả bom ra để nghiên cứu. Do vỏ bom mỏng, nên phải kê gỗ để vừa tránh va trạm kim loại sinh nhiệt, vừa không làm bẹp vỏ bom. Sau khi tháo thành công, đơn vị đã cải tiến kíp nổ từ kích nổ bằng áp suất sang chạm nổ bằng vật cứng. Mọi sự được tiến hành suôn sẻ, nhưng khi thử nghiệm phóng thử vào mục tiêu thì không nổ. Không rõ trục trặc ở bộ phận nào, chỉ còn cách phải đào quả bom lên kiểm tra, 2 chiến sỹ cảm tử khác được giao nhiệm vụ. Rất may, việc đưa quả bom lên đã thành công, sau đó bom đã được cải tiến thắng lợi, có thể bay xa 2km với sức công phá lớn. Cùng với thuỷ lôi HTA-2, bom phóng HBF của đơn vị đã góp phần cùng Đoàn 126 trên chiến trường Cửa Việt - Đông Hà, bẻ gãy cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ-nguỵ. Chỉ tính riêng ngày 3-2-1971, 9 tàu vận tải quân sự của địch từ Cửa Việt lên Đông Hà đã bị thuỷ lôi và bom phóng của ta tiêu diệt, khiến Cửa Việt bị tắc nghẽn gần 1 tuần lễ…
Song song với nhiệm vụ cải tiến, sản xuất vũ khí, Nhà máy được Quân chủng giao nhiệm vụ đóng tàu vỏ sắt có tốc độ cao phỏng theo tàu phóng ngư lôi 123-K có hoả lực mạnh. Lúc này, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, đơn vị đã phối hợp với Trung đoàn M72 thống nhất phương án đóng thuyền sắt F1, F2 lắp ĐKZ-82, bom và thuỷ lôi AMĐ-500. Đây là những thuyền vỏ sắt có thể tháo rời, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị cơ động đến vị trí chiến đấu lắp ráp, tận dụng mọi thời cơ đánh địch và dễ nguỵ trang, cất giấu ở những khu vực biển có bãi ngang, cồn cát. Giữa năm 1972, địch sử dụng thuỷ lôi để phong toả các cửa biển, hải cảng, sông ngòi miền Bắc, hòng bịt các đầu mối giao thông thủy quan trọng của ta. Chỉ trong 10 ngày từ 9 đến 19-5, địch đã thả 43 bãi thuỷ lôi trên diện tích rộng 655km2, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định… Trước tình hình đó, đơn vị lại tiếp tục phải nghiên cứu chế tạo các phương tiện rà phá thuỷ lôi, vật cản, chống phong toả của địch. Sau một thời gian, đơn vị đã chế tạo thành công tàu phóng từ cực mạnh T-152 trên cơ sở hoán cải tàu vận tải đổ bộ 50 tấn. Tàu T-152 có kết cấu vững chắc, cơ động dễ dàng, phạm vi hoạt động rộng, có thể phá tất cả các thuỷ lôi, bom từ trường lớn nhỏ hiện đại của địch, dù thả ở cửa sông hay cửa biển. Việc chế tạo thành công T-152 đã mở ra những khả năng, triển vọng lớn của Quân đội ta, thực hiện thắng lợi chống phong toả của đối phương, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển miền Bắc, tạo thuận lợi cho nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, thống nhất đất nước...
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, với tinh thần “ Đoàn kết kỷ luật, khắc phục khó khăn, lao động sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ”, thực hiện kế hoạch đầu tư có chiều sâu, những năm qua, Nhà máy X48 Hải quân đã từng bước đầu tư thiết bị công nghệ mới, đồng thời coi trọng đổi mới và nâng cao năng lực quản lý cả về kinh tế lẫn kỹ thuật. Đảng bộ, Chỉ huy đơn vị quan tâm xây dựng đơn vị VMTD gắn với xây dựng Đảng bộ TSVM, chăm lo hoạt động của các tổ chức quần chúng. Nhờ đó, liên tục nhiều năm liền, Nhà máy được cấp trên công nhận đạt VMTD, được Tư lệnh Quân chủng tặng danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”. Trải qua 45 năm xậy dựng và trưởng thành với những đóng góp thiết thực trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam ngày càng hùng mạnh, đơn vị đã được Nhà nước tặng thưởng 6 Huân chương Chiến Công các loại; 2 cá nhân được tuyên dương Anh hùng LLVTND; cùng nhiều phần thưởng khác của Quân chủng và tỉnh Quảng Ninh. Đặc biệt, ngày 22-2-2010, Nhà máy đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng LLVTND thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.